Tiểu Trần quay sang nhìn tôi. Tôi đăm đăm nhìn tờ giấy, trên đó liệt kê đủ loại rủi ro: mất máu nhiều, nhiễm trùng, tổn thương não, sống thực vật, thậm chí là tử vong… Từng chữ đều khiến người ta ớn lạnh.

Tôi không phải người nhà của anh ta. Về mặt pháp lý, chúng tôi chẳng có liên quan gì sất.

Nhưng bố mẹ anh ta thì tuổi cao sức yếu, ở cách xa ngàn dặm. Lâm Vi Vi thì trở mặt thành thù. Lúc này đây, dường như chỉ có tôi là người duy nhất có thể đặt bút lên tờ giấy quyết định sinh tử của anh ta.

“Cô An…” Tiểu Trần khóc mếu gọi.

Tôi từ từ nhắm mắt lại. Vươn tay nhận lấy cây bút, ở mục “Người nhà ký tên”, tôi dằn mạnh hai chữ “An Tình”. Nét chữ hơi run rẩy, nhưng vẫn rõ ràng.

“Trăm sự nhờ các bác sĩ cứu lấy anh ấy.” Tôi nói bằng giọng khàn đặc, trả tờ giấy lại cho cô y tá.

Y tá nhìn tôi một cái, khẽ gật đầu rồi quay ngoắt chạy biến vào phòng mổ.

Đèn đỏ phòng mổ bật sáng, tựa như con mắt im lìm mà tàn nhẫn của thần chết.

Tôi và Tiểu Trần ngồi trên hàng ghế băng lạnh lẽo ngoài hành lang. Thời gian trôi đi chậm chạp, chậm đến mức sốt ruột cồn cào. Tiểu Trần kể ngắt quãng, nửa năm nay Lục Triển Bằng bán mạng làm việc, thường xuyên tăng ca đến nửa đêm, như thể muốn dùng sự bận rộn để lấp đầy mọi khoảng trống. Vị khách hàng hôm nay vốn dĩ có thể giao cho người khác phụ trách, nhưng anh ta khăng khăng đòi tự mình đi, bảo là bước chốt hạ cuối cùng nên rất quan trọng.

“Sếp Lục anh ấy… sống thực sự chẳng tốt đẹp gì đâu cô ạ.” Tiểu Trần hạ thấp giọng, “Sau khi ly hôn, anh ấy bán nhà, tiền đưa hết cho vợ cũ, tự mình ra ngoài thuê một căn hộ nhỏ. Ngoài công việc ra, anh ấy chỉ mong ngóng đến cái ngày được gặp bé An Du mỗi tháng. Trong điện thoại của sếp toàn là hình của con bé, và cả những bài báo đưa tin về tác phẩm thiết kế của cô trước đây.”

Tôi im lặng không đáp, mắt chỉ găm chặt vào cánh cửa phòng mổ.

Không biết đã trôi qua bao lâu, đèn đỏ cuối cùng cũng phụt tắt. Vị bác sĩ phẫu thuật chính bước ra với khuôn mặt phờ phạc.

“Bác sĩ, anh ấy sao rồi?” Tôi và Tiểu Trần lao vọt tới.

“Ca mổ tạm coi là thành công. Điểm xuất huyết trong não đã được cầm máu, xương sườn đã cố định lại, lách bị vỡ cũng đã được khâu phục hồi. Hiện tại các chỉ số sinh tồn đang dần ổn định, nhưng vẫn chưa qua cơn nguy kịch, phải chuyển sang phòng ICU để theo dõi đặc biệt. Quan trọng nhất là vùng não, có để lại di chứng hay không thì phải đợi bệnh nhân tỉnh lại mới đánh giá được.”

“Vậy bao giờ anh ấy mới tỉnh?”

“Chưa thể nói chắc được, còn phụ thuộc vào ý chí và khả năng hồi phục của anh ấy. Nhanh thì một, hai ngày, chậm thì…” Bác sĩ bỏ lửng câu nói, nhưng ai nấy đều hiểu.

Tôi đứng nhìn Lục Triển Bằng được đẩy ra. Khuôn mặt anh ta trắng bệch như tờ giấy, đầu quấn băng trắng toát, trên người cắm đầy ống tiêm, hai mắt nhắm nghiền. Vẻ mỏng manh yếu ớt như thể chỉ cần chạm nhẹ là vỡ vụn. Khác biệt một trời một vực với hình ảnh người đàn ông cứng cỏi, kiên cường, thậm chí có phần lạnh lùng trong ký ức của tôi.

Anh ta được đưa vào phòng chăm sóc đặc biệt (ICU), không ai được phép vào thăm. Tôi dặn dò Tiểu Trần liên lạc với bố mẹ anh ta và lo liệu công việc công ty, rồi lê bước chân trĩu nặng rời khỏi bệnh viện.

***

Về đến nhà, An An đã ngủ ngoan. Tôi ngồi bên mép giường, ngắm khuôn mặt thiên thần của con, nhớ lại hình ảnh người đàn ông đang nằm trôi dạt giữa ranh giới sinh tử trong bệnh viện, lòng rối như tơ vò. Nếu anh ta mãi mãi không tỉnh lại, hoặc để lại di chứng nghiêm trọng, An An biết được thì sẽ ra sao? Mặc dù bây giờ anh ta chỉ là “chú Lục”, nhưng mấy năm qua gắn bó ít nhiều đã để lại dấu ấn trong lòng con trẻ.