“Con mẹ nó chứ! Chu Linh là do tôi nhìn từ nhỏ mà lớn lên đấy! Năm đói kém, cả thôn ăn mì kiều mạch là ai đi tìm về? Sao chổi mà cứu được mạng cả thôn à?”
Rồi đến mấy bà thím từng giúp bếp núc —
“Chu Linh giúp nhà tôi làm cỗ từ sáng đến tối, một đồng cũng không lấy, cô nói nó là sao chổi à?”
“Ai đồn đấy? Có gan thì đứng ra!”
Tin đồn chẳng lan xa được. Trái lại, lại truyền ra một phiên bản khác — “mẹ kế nhà họ Chu ở sau lưng bịa đặt Chu Linh”.
Danh tiếng tốt đẹp hơn bốn năm của Giang Hồng Hà, vỡ nát.
Nhưng thứ thật sự khiến vết nứt biến thành sụp đổ, là Hà Vân Thịnh.
Chiều hôm đó, thằng bé tan học về, vừa tới cửa hang lò thì nghe thấy mẹ nó đang nói chuyện với bà mối.
Nó đứng ngoài nghe hết. Sau đó chạy vào phòng bếp tìm tôi.
“Chị.”
“Ừ?”
“Mẹ nói chị là sao chổi với một bà thím. Còn bảo bà thím đó ra ngoài đi rêu rao.”
Cây cán bột trong tay tôi khựng lại. Đứa bé này mắt đỏ hoe, môi cắn chặt, nhưng không khóc.
“Chị, chị tốt với em. Em không muốn chị bị người ta bắt nạt.”
Tôi ngồi xổm xuống, nhìn thẳng vào mắt nó. “Vân Thịnh, chị từng nói với em rồi, bất kể xảy ra chuyện gì, em vẫn là em trai của chị. Còn nhớ không?”
Nó gật đầu thật mạnh. “Nhớ.”
“Câu này chị không rút lại. Nhưng sau đó sẽ có vài chuyện, mẹ em sẽ rất khó chịu. Em nghĩ kỹ chưa?”
Chín tuổi. Bắt nó chọn giữa mẹ và chị. Quá tàn nhẫn.
Nó cắn môi suy nghĩ rất lâu.
Rồi ngẩng đầu nhìn tôi. “Nghĩ kỹ rồi.”
Hôm sau. Hà Vân Thịnh đi tìm thôn trưởng Tôn thúc.
Cậu bé chín tuổi đứng trước cửa thôn ủy. Giọng nhỏ như muỗi kêu, nhưng từng chữ đều rõ ràng.
“Tôn thúc, mẹ cháu từng bỏ thứ vào đồ ăn của chị. Là thứ cỏ trên núi, trâu ăn vào là loạng choạng ấy. Cháu tận mắt nhìn thấy.”
Mặt Tôn thúc lập tức biến sắc. Ông tìm hai người dân làm chứng rồi ghi lại, sau đó đi đến nhà tôi.
Khi Giang Hồng Hà nhìn thấy thôn trưởng dẫn người bước vào sân, bà ta đang đứng ở cửa phòng bếp. Sắc mặt bà ta lập tức trắng bệch.
Ánh mắt bà ta vượt qua thôn trưởng, rơi vào người Hà Vân Thịnh đang cúi đầu ở phía sau.
Mẹ con nhìn nhau.
“Vân Thịnh——” Môi bà ta run bần bật.
Hà Vân Thịnh không nhìn bà ta. Vai nó run lên dữ dội, nhưng vẫn không rút lại lời mình nói.
Công xã cử người tới. Trong đáy bọc đồ của bà ta lật ra được đám cỏ khô cho ngựa chưa dùng hết. Thêm cả con gà mái già đến giờ vẫn đi loạng choạng — bằng chứng sắt như đinh đóng cột.
Ngày bà ta đi là một ngày âm u. Chiếc máy kéo nổ phành phạch dừng ở đầu thôn.
Cổng thôn đứng không ít người. Không một ai thay bà ta nói đỡ. Bà Lưu đứng ở cửa nhà mình, khạc một bãi xuống đất. Có người ở phía sau lẩm bẩm “đáng đời”.
Bà ta thu dọn một cái tay nải. Lúc đến có hai tay nải, một cái rương gỗ, lúc đi chỉ còn lại một cái.
Cha tôi ngồi ở cửa hang đất hút thuốc lào, không nói một lời.
Hà Vân Thịnh đứng trong sân, cúi đầu.
Chu Chưng bò trên mặt đất, chẳng biết gì cả.
Giang Hồng Hà từ trong nhà đi ra. Bà ta dừng lại giữa sân.
Nhìn tôi một cái.
Tôi đứng cạnh chuồng gà. Con gà mái già bên chân tôi vừa cục tác vừa đi — vẫn còn đi lệch nghiêng, nhưng nó vẫn sống.
“Linh Tử.”
“Vâng.”
“Ba cái lạy hôm bước qua cửa ấy — trong lòng con đang cười phải không.”
Tôi nhìn bà ta. Không phủ nhận. Bà ta gật đầu. “Con từ ngày đầu tiên đã chờ ngày này rồi.”
“Không phải chờ.” Tôi nói, “mà là từ đời trước ở trong gian củi đã chờ rồi.”
Bà ta sững ra. Không hiểu. Cũng không cần phải hiểu.
Bà ta quay người đi. Đi tới cổng sân thì dừng lại, quay đầu nhìn Hà Vân Thịnh một cái.
Môi bà ta mấp máy. Nhưng cuối cùng chẳng nói được gì. Vai Hà Vân Thịnh run dữ hơn.
Chiếc máy kéo nổ phành phạch chạy đi. Đất vàng cuộn lên, phủ lên chiếc áo bông vải xám của bà ta.
Tôi đứng nguyên tại chỗ, nhìn đám đất vàng ấy từ từ tan ra.
Cúi xuống ôm con gà mái già lên. Nó kêu cục cục hai tiếng trong lòng tôi.
Dưới lớp lông là hơi ấm.
24
Năm 1996. Mùa thu. Ở cổng cục dân chính tỉnh, tôi và Thẩm Mộ Viễn nhận giấy chứng nhận kết hôn.
Không tổ chức tiệc rượu. Hai người từ trong đi ra, đứng trên bậc thềm một lúc.
“Đi, tôi mời em ăn mì.”
Anh đưa tôi tới một quán ăn nhỏ gần cổng sau trường đại học. Ba cái bàn, tường bong mất nửa lớp vôi, phía sau bếp bà chủ đang mắng con làm bài tập.
Mì là mì bản rộng kéo tay, dầu ớt chan lên xèo xèo, trên mặt rắc một lớp gia vị khô nghiền nhỏ.
Tôi gắp một đũa cho vào miệng. Sững lại. Địa tiêu thảo.
“Ông chủ là người vùng bên kia của em.” Thẩm Mộ Viễn nói, “Tôi tìm khá lâu mới tìm được một quán như thế này.”
Tôi ôm bát không nói gì.
Năm mười tuổi lần đầu tiên moi nó ra từ dưới bệ bếp. Dạy cha tôi vo bánh. Trên bát mì kiều mạch cứu cả thôn trong năm đói kém cũng từng rắc một nắm như thế.
Ăn ăn, nước mắt rơi xuống. Rơi vào bát, hòa lẫn với nước canh mì.
Thẩm Mộ Viễn không lên tiếng. Anh gắp trứng kho kho trong bát mình sang bát tôi.
Cha tôi vẫn còn sống. Sau khi Giang Hồng Hà đi, ông sống một mình vài năm, sau đó trong thôn có một chị góa chồng thấy ông thật thà nên ghép đôi sống cùng. Cuộc sống không tốt cũng không xấu. Ông già rồi, rụng mất mấy cái răng, mỗi lần tôi về thăm ông, ông đều nhe cái miệng không răng ra cười.
Thi đậu đại học ngày đó, anh nói một câu tỉnh táo nhất trong cả cuộc đời này: “Nếu năm đó nghe lời Hồng Hà bán em đi, thì cả đời tôi coi như xong.”
Năm 1984, tôi thi đỗ trường trung học huyện, là người đầu tiên của cả thôn. Năm 1988, tôi thi vào đại học y ở tỉnh lỵ. Học phí là do Thẩm Mộ Viễn bỏ ra. Anh nói coi như là vay, không tính là cho, đến tận bây giờ cũng chưa từng bảo tôi trả.
Hà Vân Thịnh học trung học trấn, sau đó đến xưởng sửa chữa ô tô ở huyện làm học việc. Thừa hưởng cái miệng ngọt của mẹ mình, nhưng không thừa hưởng cái tâm của bà ta. Gọi tôi là chị, gọi Thẩm Mộ Viễn là anh rể. Mỗi năm Tết đến lại xách từ huyện về hai chai rượu cho cha tôi.
Nửa cái bánh bao mà kiếp trước nó nhét cho tôi — lạnh, cứng, dính đầy bụi đất — tôi nợ nó, kiếp này đã trả từng món một rồi.
Chu Chưng lớn lên cùng cha tôi. Không còn Giang Hồng Hà chiều hư nữa, cậu ta lớn thành một chàng trai trầm lặng, chắc chắn, ở trong thôn trồng trọt. Kiếp trước cậu ta uống rượu rồi đánh chết người, bị phán vô thời hạn — kiếp này không hề xảy ra.
Giang Hồng Hà quay về quê cũ rồi tái giá ở huyện bên cạnh. Có người nói sau đó bà ta thường ngồi ngẩn ngơ một mình ở cửa, trong miệng lải nhải đi lải nhải lại —
“Sao lại thành ra thế này chứ……”
Lúc tôi nghe thấy câu này, tôi đang viết bệnh án ở phòng trực của bệnh viện huyện.
Cây bút khựng lại hai giây. Rồi tôi viết tiếp. Không có khoái ý. Cũng không có thương hại.
Chỉ là một sự trống rỗng sau khi bụi bặm đã lắng xuống. Mì đã ăn xong. Đáy bát sạch sẽ.
Tôi nhớ đến ngày cuối cùng của căn nhà củi ở kiếp trước. Nằm trên nền đất lạnh ngắt, đói đến mức ngay cả đau cũng không còn cảm giác. Mở mắt ra nhìn xà nhà trên đầu. Có một vệt sáng lọt qua khe cửa, mảnh như sợi chỉ, chiếu lên mu bàn tay. Đó là thứ cuối cùng tôi nhìn thấy ở kiếp trước.
Một vệt sáng. Còn tô mì của kiếp này thì nóng hổi. Nước dùng thì thơm ngọt. Người ngồi đối diện là một người tôi quen từ buổi đi chợ phiên, cũng là người đã tốt lên từ một bát nấm.
Hương thơm của địa tiêu thảo trong bát bay lên, hun đến mức sống mũi tôi cay cay.
Tôi đặt bát xuống, lau miệng: “Thêm một bát nữa.” Anh cười. Đứng dậy đi gọi thêm mì.
Ánh nắng xuyên qua ô cửa kính dính đầy dầu mỡ, rơi xuống mặt bàn tróc sơn ở giữa hai cái bát không.
Tôi đưa tay chạm vào vệt sáng ấy. Ấm áp.
(Hết toàn văn)

