Năm ta chết, chàng đang ở Tây Bắc tử chiến với phản quân. Tin tức truyền đến tiền tuyến, khi ấy trên người chàng trúng ba mũi tên, rút tên ra, cầm đao lên ngựa, dẫn ba trăm thân vệ ngày đêm bôn ba tám trăm dặm trở về kinh thành.

Khi đến nơi, ta đã hạ táng xong.

Chàng đứng trước mộ ta, đặt một hộp bánh quế hoa trước bia mộ. Sau đó chàng đến phủ Thái phó, đánh gãy một chân của Cố Trường Yến.

Chàng quỳ trên nền đất phủ Thái phó, nói một câu:

“Vì sao nàng, không đợi ta trở về.”

Năm ngày sau, Triệu Hằng hồi kinh.

Chàng không báo trước, trực tiếp đến phủ họ Thẩm.

Khi ấy ta đang ở hậu viện cho cá ăn, vừa ngẩng đầu đã thấy một bóng người cao lớn đứng dưới cửa vòm trăng.

Chàng mặc giáp đen, phong trần mệt mỏi, trên vai còn vương cát vàng chưa kịp phủi sạch. Trên giáp có mấy vệt đao mới, vệt sâu nhất ở ngay ngực, suýt nữa chẻ đôi hộ tâm kính. Trên mặt cũng nhiều thêm vài vết sẹo, một vết từ tai trái kéo đến cằm, một vết ở trên mày, còn một vết ở dưới hàm, vết thương vẫn chưa lành hẳn.

Nhưng đôi mắt ấy thì không đổi. Trầm tĩnh, sâu thẳm, như mặt hồ mùa đông, bề mặt kết băng, dưới đáy là dòng ngầm nóng bỏng.

Đôi mắt ấy vừa nhìn thấy ta, lớp băng liền vỡ tan.

“Chiêu Ninh.”

Chàng gọi tên ta.

Giọng khàn khàn, như đã bị gió cát Tây Bắc mài mòn vô số lần. Trong sự khàn đục ấy, ẩn giấu sự run rẩy bị nén đến cực hạn.

Thức ăn cho cá trong tay ta vãi đầy xuống đất.

Đời trước, Cố Trường Yến chưa từng gọi ta là “Chiêu Ninh”. Chàng vĩnh viễn chỉ gọi ta là “phu nhân”, khách khí đến mức như đang gọi một chức danh.

Còn Triệu Hằng vừa mở miệng, đã gọi tên ta.

“Triệu Hằng ca ca.” Ta đứng lên, sống mũi cay xè.

Chàng sững lại. Đại khái là vì mắt ta đỏ hoe. Đời này, điều chàng sợ nhất chính là ta khóc.

“Đừng khóc,” chàng vụng về nói, luống cuống sờ soạng trên người, “Ta mang bánh quế hoa cho nàng.”

Chàng lấy từ trong ngực ra một gói giấy dầu. Giấy dầu bị giáp kẹp đến méo mó, bánh quế hoa bên trong cũng vỡ nát hơn nửa.

“Trên đường xóc nát rồi,” chàng tiếc nuối nói, “Tây Bắc quá xa, ta chạy suốt sáu ngày sáu đêm, ngựa chết mất ba con. Lần sau ta sẽ dùng hộp đựng.”

Ta nhận lấy gói bánh quế hoa đã vỡ, lấy một miếng bỏ vào miệng. Ngọt. Ngọt như miếng bánh sáu năm trước chàng trèo tường mua về.

“Ngon lắm.” Ta nói.

Nước mắt rơi xuống bánh.

Triệu Hằng hoảng hốt, mặt đỏ bừng, đưa tay muốn lau nước mắt cho ta, ngón tay lửng lơ bên gò má ta hồi lâu, cuối cùng lại rụt về.

“Đừng khóc, là ta sai, lần sau sẽ không vỡ nữa.”

“Triệu Hằng ca ca, huynh cưới ta được không?”

Giáp của chàng vang lên loảng xoảng một tiếng. Cả người cũng như vang lên một tiếng, tựa một pho tượng đá bỗng sống dậy.

“…Nàng nói gì?”

“Ta nói, huynh cưới ta.”

Chàng trầm mặc rất lâu. Lâu đến mức cá chép trong ao tản đi, lâu đến mức cánh hải đường rơi đầy trên vai.

“Chiêu Ninh, nàng biết mình đang nói gì không?”

“Ta biết.”

“Ta quanh năm ở biên quan, nàng gả cho ta sẽ chịu khổ. Tây Bắc không có tiệm lụa, không có son phấn, đến nước uống cũng phải gánh từ nơi cách mười dặm.”

“Ta không sợ chịu khổ.”

“Ta tính tình không tốt, không biết nói, chữ viết xấu, vẽ tranh cũng dở, những thứ nàng thích ta thứ nào cũng không biết.”

“Triệu Hằng, rốt cuộc huynh cưới hay không?”

Chàng hít sâu một hơi, rồi quỳ một gối xuống. Giáp trụ va vào phiến đá xanh, phát ra một tiếng trầm đục.

Chàng ngẩng đầu nhìn ta. Trong đôi mắt ấy, lớp băng hoàn toàn vỡ nát, dòng ngầm nóng bỏng dâng trào lên, không còn cách nào ép xuống được nữa.

Chàng khóc.

Một vị tướng quân xương cứng, trên người mười mấy vết sẹo mà chưa từng rơi lấy một giọt lệ — vậy mà lại quỳ trước mặt một cô nương mười sáu tuổi, khóc.

“Cưới.”

Một chữ, nặng tựa ngàn cân.

Chàng từ trong ngực lấy ra một chiếc hộp gỗ hồng, mở ra, bên trong là một đôi ngọc bội.

Chất ngọc cực tốt, là Hòa Điền bạch ngọc thượng hạng. Nhưng tay nghề khắc chạm thì vụng về đến muốn chết, đường nét ngoằn ngoèo xiêu vẹo, vừa nhìn là biết do chính chàng tự khắc.

Một cái khắc hình hổ, đầu hổ não hổ. Cái còn lại khắc hình thỏ — không, chàng khắc là thỏ, nhưng ta nhìn hồi lâu, lại cảm thấy nó càng giống một con chuột hơn.

“Cái này là gì?” Ta giơ cái “thỏ” lên.

“Thỏ.” Vành tai Triệu Hằng đỏ ửng như muốn nhỏ máu.

“Đây là thỏ á?”

“Lúc ta khắc thì cảm thấy giống thỏ, khắc xong lại thấy giống chuột. Ta sửa suốt ba tháng, khắc tám con, đây là con đẹp nhất.”

Ta bật cười thành tiếng, nước mắt cũng theo đó mà rơi xuống.

“Triệu Hằng ca ca, sau này huynh đừng khắc nữa, ta sợ người ta lại tưởng ta cầm tinh con chuột.”

Chàng ngẩng đầu nhìn ta, vành mắt vẫn còn đỏ, nhưng khóe môi đã nhếch lên, nở một nụ cười ngốc nghếch.

“Vậy nàng còn gả không?”

“Gả.”

3

Trước khi gả cho Triệu Hằng, ta còn có một việc phải làm.

Ở kiếp trước, bí mật giữa Quý phi Lưu Như Yên và Cố Trường Yến, cho đến chết cũng không ai biết. Hoàng đế sủng ái Lưu Như Yên cả một đời, đến chết cũng không biết trong lòng Thái phó đại nhân của hắn lại cất giấu người đàn bà của hắn.

Kiếp này, ta muốn khiến đôi cẩu nam nữ đó phải trả máu bằng máu.