Ba ngày cải tạo xong.
Bếp xây thành hai dãy.
Bốn nồi lớn cùng lúc sôi.
Tuần đầu tiên cửa hàng ở tỉnh đạt trung bình hơn tám mươi đồng mỗi ngày.
Tháng đầu doanh thu ba nghìn bốn trăm.
Cộng với cửa hàng cũ ở huyện hơn hai nghìn, tổng thu tháng vượt năm nghìn.
Nhưng tỉnh lỵ không chỉ có cơ hội.
Tuần thứ ba sau khi khai trương, một người phụ việc tôi thuê bị ông chủ quán Tứ Xuyên mới mở ở con hẻm bên cạnh mời đi uống rượu.
Trên bàn rượu hắn buột miệng nói đại khái cách làm nước lẩu.
Hai tuần sau quán Tứ Xuyên đó treo bảng—
“Lẩu Tứ Xuyên chính tông.”
Lần này tôi không đợi họ tự đóng cửa như ở huyện.
Ông chủ này là người Tứ Xuyên.
Hiểu về vị cay tê gấp mười lần Phùng Quảng Tiến.
Cho ông ta ba năm tháng có lẽ thật sự làm ra được bảy tám phần giống.
Tôi thêm ba món mới dưới thực đơn—
Thịt bò tươi cắt tay.
Chả tôm bí truyền.
Thịt chiên giòn.
Mỗi món đều cần cách xử lý riêng.
Thịt bò phải cắt ngang thớ thành lát mỏng, nhúng tám giây.
Thêm một giây là dai.
Chả tôm dùng tôm sông tươi bóc vỏ, đập nhuyễn trộn lòng trắng trứng rồi quết bằng tay cho dẻo.
Thịt chiên giòn dùng thăn heo, nhúng bột trứng và bột khoai lang rồi chiên vàng.
Ăn riêng thì giòn.
Nhúng vào nồi lại là một vị khác.
Sau khi thêm món mới, quán lẩu Tứ Xuyên kia hai tháng sau lại đổi bảng thành quán món Tứ Xuyên bình thường.
Người phụ việc làm lộ bí mật tôi không nổi giận trước mặt mọi người.
Tôi trả đủ tiền công rồi tiễn đi.
Trước khi đi tôi nói một câu.
“Ra ngoài làm ăn, biết giữ miệng là bản lĩnh.
Lần này chỉ là nước lẩu không đáng gì.
Lần sau nếu là chuyện khác thì khó nói.”
Hắn đỏ mặt rời đi.
Cuối năm 1985.
Hai cửa hàng Hồng Táo tổng doanh thu năm vượt sáu vạn đồng.
Lợi nhuận ròng mười hai nghìn bốn trăm.
Vạn nguyên hộ.
Huyện treo bảng khen thưởng.
Chính quyền tặng cờ.
Phóng viên tỉnh mang máy ảnh đến phỏng vấn.
Tin tức truyền về huyện như hòn đá ném xuống mặt nước.
Gợn sóng lan vào phòng bảo vệ của nhà máy dệt.
Trương Đại Thành giơ tờ báo trước mặt Trần Thiệu Quốc.
Trên báo in ảnh Hồng Táo và một đoạn tin—
“Hứa Vãn Đường, nữ, 28 tuổi, một trong những vạn nguyên hộ cá thể đầu tiên của huyện.”
Trong ảnh Hứa Vãn Đường đứng trước cửa Hồng Táo.
Sau lưng là bảng hiệu nền đỏ chữ trắng.
Bên cạnh là một bà lão ngồi xe lăn.
Một cô gái buộc tóc đuôi ngựa.
Hắn nhận ra bà lão đó.
Là mẹ hắn.
Cũng nhận ra cô gái kia.
Là em gái hắn.
Họ trông rất ổn.
Hắn đặt tờ báo xuống.
Năm đó đối với Trần Thiệu Quốc là một mớ hỗn độn.
Chiếc ghế giám đốc của Phùng Quảng Tiến bắt đầu lung lay.
Hiệu quả kinh doanh của nhà máy dệt liên tục giảm.
Cấp trên bắt đầu kiểm tra sổ sách.
Những chuyện chi tiêu bừa bãi, mời khách tặng quà nhiều năm trước như lửa trong giấy bắt đầu bốc khói.
Tính khí của Phùng Lệ Bình ngày càng tệ.
Mua quần áo, mỹ phẩm, giày da.
Tháng nào cũng tiêu sạch lương.
Trần Thiệu Quốc chỉ nói một câu “tiết kiệm chút”.
Phùng Lệ Bình liền ném bát cơm xuống đất.
“Cái tiền lương của anh còn không bằng một ngày vợ cũ anh bán lẩu!
Anh lấy tư cách gì quản tôi tiêu tiền?”
Hắn ngồi trước đống bát vỡ và bát cơm sống.
Cảm thấy rất mệt.
Nhưng cú đả kích lớn nhất xảy ra một tháng sau.
Cuối năm tại hội nghị tổng kết của nhà máy dệt, khi lãnh đạo nhà máy biểu dương những hộ kinh doanh cá thể tiên tiến đóng góp cho kinh tế địa phương, họ đã nhắc đến tên Lẩu Hồng Táo.
Sau đó nói:
“Đồng chí Hứa Vãn Đường một mình dẫn theo mẹ chồng và em chồng, tay trắng dựng nghiệp trở thành vạn nguyên hộ, tinh thần như vậy đáng để tất cả chúng ta học tập.”
Khi lời nói vừa dứt, Trần Thiệu Quốc cảm thấy ánh mắt của cả hội trường đều đang nhìn mình.
Lúc tan họp, một đồng nghiệp trẻ mới vào làm ở hành lang nhỏ giọng hỏi người bên cạnh:
“Hứa Vãn Đường vạn nguyên hộ đó dẫn theo mẹ chồng với em chồng, vậy người nhà ban đầu của họ đâu?”
“Người nhà ban đầu à?
Chính là Trần Thiệu Quốc ở nhà máy mình đó.
Anh ta ném cả mẹ ruột lẫn em gái cho vợ cũ.”
Người đồng nghiệp trẻ “ồ——” một tiếng.
Chỉ một chữ.
Nhưng còn khiến người ta khó chịu hơn bất cứ lời trách móc nào.
Năm 1986, Phùng Quảng Tiến chính thức ngã ngựa.
Bị cách chức kỷ luật, lỗ hổng rất lớn.
Phùng Lệ Bình không quay về.

