Đến cửa ông dừng lại một chút.
Quay lưng về phía tôi, giọng rất nhẹ.
“Thay tôi hỏi thăm lão Chu.
Chuyện năm đó… tôi vẫn nhớ.”
Tôi mất một tuần cải tạo.
Cha tôi dẫn mấy người đàn ông trong làng sơn tường, xây bếp, lắp ống thoát khói.
Mẹ tôi may khăn trải bàn caro đỏ.
Trần Tiểu Hòa dùng bút lông viết thực đơn lên tấm ván gỗ trắng—chữ khải ngay ngắn.
Trước cửa treo bảng hiệu.
Nền đỏ chữ trắng.
Hồng Táo Hỏa Oa.
Đêm trước khai trương, mẹ chồng được Tiểu Hòa đẩy vào quán.
Bà nhìn quanh một vòng.
Ánh mắt dừng trên từng cái bàn.
Cuối cùng dừng lại ở bảng thực đơn.
Bà nhíu mày.
Dùng tay trái chỉ vào giá.
“Quá… thấp.”
Sau đó từng chữ một.
“Rau… hai hào.
Thịt… năm hào.
Đồ lòng… ba hào.
Nước lẩu… tính tiền.
Năm hào.”
Trong đầu tôi nhanh chóng tính toán một lượt.
Theo phương án của bà, lợi nhuận mỗi bàn có thể tăng bốn phần.
Một bà lão liệt bị con trai ruột coi như gánh nặng vứt bỏ, đầu óc lại sáng suốt hơn tất cả chúng tôi.
“Được.
Theo lời mẹ.”
Tháng đầu tiên Hồng Táo khai trương, doanh thu tháng vượt một nghìn hai trăm đồng.
Sau khi vào hè có hơi chậm lại.
Nhưng gió thu vừa lên lại xếp hàng.
Khi Trần Tiểu Hòa mở sổ cho tôi xem, tôi chú ý thấy trên bìa viết ngay ngắn bốn chữ—
“Sổ Hồng Táo”.
Bên dưới là ngày tháng và chữ ký của cô bé.
Chữ ký không lắp bắp.
Chữ viết gọn gàng hơn lời nói của cô bé nhiều.
Nhưng khi quán nổi tiếng thì rắc rối cũng theo tới.
Liên tiếp hai ngày có người lục thùng rác khi tôi đi đổ bã nguyên liệu.
Những vỏ hoa tiêu và hạt ớt sau khi nấu nước lẩu bị moi ra xem rất kỹ.
Thạch Lỗi giúp tôi để ý hai ngày.
Người lén lục rác là em vợ của Phùng Quảng Tiến, giám đốc nhà máy dệt.
Vợ của Phùng Quảng Tiến có một người em trai vô dụng.
Làm gì cũng lỗ.
Thấy Hồng Táo nổi tiếng liền động lòng.
Lẩu thì có gì khó?
Một nồi dầu thêm ớt thôi mà.
Khi Thạch Lỗi tới nói chuyện này sắc mặt anh không tốt.
“Có cần tôi đi nói chuyện với hắn không?”
“Không cần.
Cứ để hắn làm.
Nếu hắn có thể nghiên cứu ra công thức của tôi từ đống rác, tôi sẽ viết ngược tên mình.”
Cốt lõi của nước lẩu nằm ở thứ tự nấu và độ lửa.
Nhiệt độ nào cho đậu bản tương.
Lúc nào thả hoa tiêu.
Giai đoạn nào hạ lửa.
Sai một bước là khác một trời một vực.
Nửa tháng sau Phùng Quảng Tiến mở “Hồng Lạt Hỏa Oa” ở phía tây huyện.
Tôi đi xem một lần.
Về nói với mẹ tôi.
“Cay thì cay thật, nhưng không có hậu vị, giống như nhai bột ớt.
Không trụ được một tháng.”
Mười chín ngày.
Đóng cửa.
Nhưng điều tôi lo là chính Phùng Quảng Tiến.
Giám đốc nhà máy dệt, người có tiếng có quyền trong huyện.
Chép công thức không được, bước tiếp theo của ông ta chắc chắn sẽ dùng quyền lực để ép.
Quả nhiên tới thật.
Phùng Quảng Tiến lấy danh nghĩa “kiểm tra tài sản nhàn rỗi của bách hóa” để gây áp lực lên Mã Vạn Thuận, yêu cầu thu hồi cửa hàng của tôi.
Cho tôi một tuần dọn đi.
Lúc giấy thông báo được gửi đến cửa, tôi đang nấu nước lẩu.
Mẹ tôi đọc xong đứng giữa sân chửi suốt nửa tiếng, tổ tông tám đời nhà Phùng Quảng Tiến bị bà đào từ dưới mộ lên hỏi thăm ba lượt.
Cha tôi ngồi ở bậc cửa hút thuốc lào hết điếu này đến điếu khác, không nói gì.
Trần Tiểu Hòa ôm sổ kế toán co rúm ở góc bếp, môi run lên.
Mẹ chồng lại bình tĩnh lạ thường.
Bà dùng tay trái viết bốn chữ trên giấy—
“Đừng… hoảng… loạn.”
Rồi viết thêm một dòng.
“Đến… phòng… công thương huyện.
Chính sách… hộ kinh doanh.”
Năm 1984, nhà nước đã ban hành chính sách khuyến khích kinh doanh cá thể.
Quyền kinh doanh hợp pháp của hộ cá thể được pháp luật bảo vệ.
Phùng Quảng Tiến dùng biện pháp hành chính để đàn áp hộ kinh doanh hợp pháp, hoàn toàn không đứng vững.
Sáng hôm sau tôi thay quần áo sạch sẽ, mang theo giấy phép kinh doanh, hợp đồng thuê nhà và toàn bộ sổ sách của Trần Tiểu Hòa, đến Cục Công thương huyện.
Phó cục trưởng Lưu tiếp tôi, lật xem giấy phép và hợp đồng, vẻ mặt không biểu cảm.
Sau đó ông mở sổ kế toán.
Lật hai trang, động tác bỗng dừng lại.
Các mục rõ ràng, số liệu chính xác.
Mỗi ngày mua nguyên liệu, tiêu hao thực phẩm, doanh thu, thuế phí—từng khoản đều có căn cứ, từng đồng đều khớp.
Năm 1984 có bao nhiêu hộ kinh doanh cá thể thậm chí còn không có sổ.

