Không có người đợi cửa, không có bờ vai để tựa vào, đến một người bạn có thể gọi điện để trút bầu tâm sự cũng không tìm ra.

Tôi luôn sống một mình. Bắt đầu từ năm mười sáu tuổi, chỉ có một mình.

***

Năm đó, mẹ tôi phát hiện mắc bệnh suy thận giai đoạn cuối.

Bà đã chạy thận được hai năm, cơ thể như bị vắt kiệt, gầy trơ xương.

Bố tôi bỏ trốn ngay tháng thứ ba sau khi bà có kết quả chẩn đoán. Ông ta mang theo sổ tiết kiệm, sổ đỏ, và cả tia hy vọng cuối cùng của mẹ tôi.

Ngày đi, ông ta còn dặn tôi rằng ông đi kiếm tiền, sẽ về sớm thôi. Nhưng ông ta chưa từng quay lại.

Mẹ tôi gắng gượng được rất lâu. Bà vẫn đến bệnh viện, vẫn chạy thận, lúc khỏe còn nấu cho tôi một bữa cơm, cười hỏi chuyện trường lớp.

Tưởng chừng như mọi thứ chẳng có gì thay đổi.

Cho đến một ngày đi học về, trên bàn bày la liệt thức ăn. Toàn là những món tôi thích.

Bà ngồi đối diện nhìn tôi, nụ cười trên môi rất đỗi dịu dàng, nhưng sâu thẳm trong đôi mắt ấy, trống rỗng.

Ánh mắt đó, đến chết tôi cũng không quên.

Mùi thức ăn trên bàn có gì đó là lạ.

Tôi sực nhớ ra lọ thuốc màu nâu mới toanh bị xé mất nhãn mác mà tôi thấy trong ngăn kéo đầu giường bà mấy hôm trước.

Máu trong người tôi lạnh toát.

“Mẹ… Mẹ bỏ gì vào đồ ăn phải không?”

Biểu cảm của bà phút chốc vỡ vụn.

Sau đó bà đứng bật dậy, ôm chầm lấy tôi, ôm chặt đến mức tôi không thở nổi.

“Niệm Niệm, mẹ không muốn con phải ở lại chịu khổ một mình. Đi cùng mẹ đi, kiếp sau mẹ nhất định sẽ bảo vệ con thật tốt.”

Tôi vùng ra. Cắm đầu cắm cổ chạy.

Tôi chạy một mạch từ tầng sáu lên sân thượng, đứng sát mép lan can, giàn giụa nước mắt.

Bà đuổi theo. Giơ tay về phía tôi, đứng khóc không vững giữa gió lộng.

“Niệm Niệm, lại đây, cho mẹ ôm con một cái.”

Tôi không biết mình nên bước tới hay lùi lại.

Bước tới là mẹ, lùi lại là vực thẳm. Hay là ngược lại, tôi cũng không rõ nữa.

Tôi không nhớ mình đã đứng đó bao lâu, chỉ nhớ gió rất to, lạnh đến run rẩy.

Có người đã tóm lấy cổ tay tôi từ phía sau.

Lực rất mạnh, tôi giãy giụa thế nào cũng không tuột ra được.

Trong lúc hỗn loạn, tôi quay đầu lại, nhìn thấy một thiếu niên.

Cậu ấy khoảng mười tám, mười chín tuổi, mặc áo khoác đồng phục màu sẫm, có lẽ là người dân sống ở tòa nhà bên cạnh.

Cậu ấy đứng đó, một tay nắm chặt lấy cổ tay tôi, tay kia chắn giữa tôi và lan can.

Tôi không nhớ cậu ấy đã nói gì.

Chỉ nhớ biểu cảm của cậu ấy rất nghiêm túc, không phải kiểu tò mò tọc mạch, sợ rước họa vào thân, hay kiểu quan tâm giả tạo. Cậu ấy chỉ chăm chăm nhìn tôi một cách vô cùng nghiêm túc.

Sau đó xe cứu hỏa tới, cảnh sát tới, sân thượng nhốn nháo toàn người là người.

Mẹ tôi được đưa đi cấp cứu. Nhưng bà không bao giờ tỉnh lại nữa.

Giữa lúc mọi người bận rộn rối ren, tôi thu mình vào một góc sân thượng, bó gối, không thốt nên lời.

Thiếu niên ấy không đi.

Cậu ấy ngồi xổm trước mặt tôi, rút từ trong túi ra một mảnh giấy đưa cho tôi. Trên đó ghi một dãy số điện thoại.

“Nếu em không biết đi đâu,” cậu ấy nói, “thì gọi số này.”

Tôi ngẩng lên nhìn. Gương mặt cậu nhòe đi trong ánh đèn lúc tỏ lúc mờ, nhưng câu nói ấy tôi nghe rất rõ.

Đó là chuyện của mười bảy năm trước.

Thiếu niên ấy, là Cố Diễn Chu.

Sau này, tôi dựa vào số điện thoại ấy mà sống sót, từng chút từng chút bò ra khỏi chuỗi ngày tăm tối, thi đỗ đại học, tìm được việc làm, và cuối cùng lăn lộn đến được bên cạnh anh, làm trợ lý cho anh.

Có lẽ anh đã sớm quên chuyện đêm hôm đó. Những cô gái có ý định tự tử trên sân thượng nhiều vô kể, cứu một người, đâu đáng để nhớ cả đời.

Nhưng tôi thì nhớ.

Tôi đã bẻ ngoặt bánh lái của cả cuộc đời mình hướng về phía anh.

***

Đêm bị sốt, tôi lại nằm mơ thấy mẹ.

Bà đứng ở một nơi rất xa, nhìn tôi cười, không nói một lời. Tôi muốn bước tới nhưng đi mãi chẳng tới nơi.