Bước ra khỏi phòng mẹ, tôi đứng ngoài sân, nhìn cây hòe già.

Ánh nắng xuyên qua kẽ lá chiếu xuống, rải đầy những vệt sáng vụn vỡ.

Tôi nắm chặt chiếc chìa khóa trong tay, thầm nhủ:

“Việt Hải, anh đợi đấy. Những gì người ta nợ anh, em sẽ thay anh đòi lại bằng sạch.”

Cầm chiếc chìa khóa trên tay, tôi lật đi lật lại xem hồi lâu.

Không nhìn ra được là khóa gì, rãnh răng cưa có vẻ đặc biệt, giống như khóa móc kiểu cũ.

Trịnh Việt Xuyên đi tới, cầm lấy xem thử rồi bảo: “Đây giống chìa khóa của mấy cái ổ khóa bấm ở nhà kho.”

Tôi động lòng: “Nhà kho? Nhà kho nào?”

Cậu ấy lắc đầu: “Khó nói lắm. Nhưng trên thị trấn có vài cái kho cũ, người ta hay dùng loại khóa này.”

Tôi ngẫm nghĩ, quyết định cầm chìa khóa đi loanh quanh mấy cái nhà kho cũ trên thị trấn xem sao.

Nhưng nhà kho trên thị trấn không ít, đâu thể thử từng cái một.

Đang rầu rĩ, mẹ chồng bỗng lên tiếng: “Trước kia Việt Hải từng làm việc ở trạm lương thực cũ phía Đông thị trấn.”

Tôi khựng lại: “Trạm lương thực cũ?”

Mẹ gật đầu: “Đúng, ngay cạnh cái nhà kho bỏ hoang bây giờ ấy. Hồi trước nó làm bảo vệ ở đó vài ngày, sau này nghỉ không làm nữa.”

Đầu tôi lóe sáng, nhà kho bỏ hoang và trạm lương thực cũ nằm sát nhau.

Trịnh Việt Hải giấu hộp sắt ở nhà kho bỏ hoang, vậy chiếc chìa khóa này, liệu có phải mở một ổ khóa nào đó gần khu vực ấy?

Tôi lập tức quay sang bảo Việt Xuyên: “Đi, mình ra phía Đông thị trấn một chuyến.”

Cậu ấy chẳng nói lời nào, nổ máy xe, đèo tôi lao thẳng về phía đó.

Đến nhà kho bỏ hoang, tôi nhìn quanh một lượt.

Ngay bên cạnh quả thực có một trạm lương thực cũ đã bị bỏ hoang từ lâu, cánh cửa sắt rỉ sét tơi tả.

Tôi bước tới, đẩy cửa, cửa không khóa, “kéttttt” một tiếng rồi mở ra.

Bên trong trống rỗng, chỉ có mấy cây cột chống đỡ mái nhà, dưới đất nằm lăn lóc vài cái bao tải mốc meo.

Tôi bước vào, đảo mắt nhìn quanh.

Việt Xuyên theo sau, cất giọng: “Chỗ này mấy năm rồi không có ai lui tới.”

Tôi không đáp, quét mắt khắp căn phòng một vòng.

Chợt, tôi nhìn thấy ở góc tường có một chiếc tủ gỗ cũ, cửa đóng kín, bên trên móc một ổ khóa bấm kiểu cũ.

Tôi bước tới, rút chìa khóa ra, tra vào ổ.

Vặn nhẹ, “tách” một tiếng, khóa mở tung.

Tim tôi đập loạn nhịp, kéo cửa tủ ra.

Bên trong đặt một túi giấy xi măng, phồng to, có vẻ đựng khá nhiều đồ.

Tôi lấy ra, mở xem.

Bên trong là một xấp ảnh và một tập tài liệu viết tay.

Trong ảnh là Chu Đức Vượng đang nói chuyện với một người đàn ông lạ mặt, bối cảnh giống như một nhà kho nào đó.

Tôi lật vài tấm, phát hiện bối cảnh trong ảnh trông như một kho bãi hẻo lánh.

Người đàn ông lạ mặt kia tôi chưa từng gặp.

Nhưng nhìn thái độ lúc Chu Đức Vượng nói chuyện với hắn, có thể thấy hai người rất thân thiết.

Tôi cầm tập tài liệu lên, mở ra.

Bên trên là những dòng chữ san sát, giống như lời khai của một người nào đó.

Đại ý là, công ty vận tải của Chu Đức Vượng bề ngoài thì làm ăn đàng hoàng, nhưng thực chất ngấm ngầm nhận vận chuyển những món hàng không rõ nguồn gốc.

Cuối bản tài liệu có ghi một cái tên: Lưu Tam.

Lại là Lưu Tam.

Cầm tập tài liệu, lòng dạ tôi cuộn trào.

Thì ra, Lưu Tam không chỉ là kẻ trung gian, mà còn là tâm phúc của Chu Đức Vượng.

Chuyến hàng đó của Trịnh Việt Hải, từ đầu đến cuối đều do Chu Đức Vượng sắp xếp.

Nhưng tại sao Chu Đức Vượng lại tìm đến Trịnh Việt Hải?

Trịnh Việt Hải chỉ là một tài xế chở thuê, không ân không oán với lão.

Trừ phi, bản thân chuyến hàng đó có vấn đề.

Đang mải nghĩ, điện thoại bỗng đổ chuông.

Là Chu Đức Vượng gọi tới.

Tôi do dự một lúc rồi bắt máy.

Đầu dây bên kia, giọng Chu Đức Vượng không nghe ra buồn vui: “Trình Vãn Ninh, tôi nghe nói, hôm nay cô lại đến phía Đông thị trấn?”

Tim tôi giật thót, sao lão ta lại biết?

Tôi im lặng.