Bà Châu lườm sắc lẹm: “Bưng về. Sĩ tử mà ăn thiếu một miếng, ta sống mái với con.” Tôi đứng đực ra đó.
Đại Trụ nói nhỏ: “Triệu Thu, cô cứ ăn đi. Thi xong, tôi lên núi bẫy thỏ cho mà xem.”
Bà Châu cốc đầu anh ta: “Bớt nổ đi, thỏ nó nghe thấy nó lại cười cho rụng rốn.”
Tôi bật cười thành tiếng. Cái căng thẳng như dây đàn cũng chùng xuống vài phần.
Ba ngày trước kỳ thi, huyện phát giấy báo dự thi. Cô Diệp đạp xe lên lấy, mồ hôi nhễ nhại.
Tờ giấy mỏng dính, in tên tôi, phòng thi và số báo danh. Tôi cầm tờ giấy, lòng bàn tay nóng ran. Tờ giấy này, quý giá hơn bất cứ món hồi môn nào trên thế giới.
Bà Châu sờ sờ vào đó: “Chỉ cái này là vào được phòng thi à?” Tôi gật đầu.
Bà chắp hai tay lại, vái lạy về phía cửa: “Lạy trời lạy phật phù hộ cho con bé suôn sẻ.”
Tôi buột miệng: “Mẹ…”
Từ đó thoát ra tự nhiên như hơi thở. Bà Châu sững người. Đại Trụ cũng ngớ ra. Mặt tôi đỏ bừng, nhưng không thu lại: “Mẹ, con sẽ thi thật tốt.”
Hốc mắt bà Châu đỏ ửng. Bà vội quay đi, lấy vạt áo thấm nước mắt: “Ừ, ừ, thi tốt nhé.”
Lời đáp của bà rất nhẹ, nhưng dường như bà đã mong ngóng nó từ lâu lắm rồi.
Đêm đó, bà Châu gói kỹ giấy báo thi của tôi vào tờ nilon, cất vào ngăn trong cùng của túi xách. Bà kiểm tra đi kiểm tra lại bút chì, tẩy, thước, tiền lẻ, giấy chứng nhận.
Tôi bảo: “Mẹ ơi đủ rồi.”
Bà đáp: “Chưa đủ. Chuyến này của con, quan trọng hơn cả lúc lên xe hoa.”
Tôi im lặng một lát rồi nói khẽ: “Hôm đó không phải lên xe hoa, là bị lừa bán ạ.”
Bà Châu khựng lại, rồi nắm chặt tay tôi: “Thế thì lần này, mới thực sự là bước ra khỏi cửa.”
Hôm trước ngày thi, chúng tôi lên huyện thuê một nhà trọ tồi tàn. Phòng có hai chiếc giường gỗ mọt, tường tróc lở từng mảng. Bà Châu nằng nặc đòi đi theo chăm tôi, còn Đại Trụ thì nằm trải chiếu ngoài hành lang.
Đêm xuống, tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Trong bóng tối, bà Châu lên tiếng: “Căng thẳng à?”
“Vâng.”
“Sợ cái gì?”
“Sợ làm bài không tốt.”
Bà cười khẽ: “Thế thì nghĩ đến con lợn đi.”
Tôi sửng sốt.
Bà tỉnh bơ: “Lợn cũng bán tiêu hết rồi, con còn cách nào nữa đâu? Phải đâm lao thì phải theo lao thôi.”
Tôi phì cười, cười mãi rồi nước mắt ứa ra. Bà vỗ nhè nhẹ vào lưng tôi như dỗ con nít: “Ngủ đi. Ngày mai đề có khó cỡ nào, cứ câu nào biết thì viết cho đầy giấy. Viết xuống được, là thắng rồi.”
Sáng sớm hôm sau, trước cổng trường cấp 3 huyện đông nghẹt người. Tôi đứng ngoài rào, nghe tiếng chuông báo danh reo vang.
Bà Châu đưa chiếc túi cho tôi, tay hơi run: “Triệu Thu, vào đi.”
Đại Trụ đứng cạnh, lúng búng mãi mới thốt được một câu: “Đừng luống cuống nhé.”
Tôi gật đầu. Cất bước vào trường, tôi không dám ngoái lại. Tôi sợ quay lại sẽ khóc.
Nhưng tôi biết, họ đang đứng đó dõi theo tôi. Giống như hai ngọn hải đăng, soi rọi con đường tôi lách qua đám đông, tiến thẳng vào căn phòng quyết định số phận mình.
11
Môn thi đầu tiên là Ngữ văn.
Tôi ngồi bàn thứ ba dãy giáp cửa sổ, bên ngoài có cây hòe cổ thụ, lá thổi xào xạc trong gió.
Khi giám thị phát đề, lòng bàn tay tôi đẫm mồ hôi. Tờ giấy thi vừa chạm mặt bàn, tôi nhắm nghiền mắt lại. Câu nói của bà Châu văng vẳng bên tai: Câu nào biết thì viết cho kín giấy.
Tôi mở mắt, dán mắt vào câu hỏi đầu tiên. Ngữ pháp, đọc hiểu, tập làm văn. Đề bài không hề hóc búa. Trái tim tôi dần đập chậm lại.
Đề văn yêu cầu viết về lý tưởng thanh niên và con đường thời đại.
Cầm bút trên tay, trong đầu tôi chợt xẹt qua vô vàn hình ảnh. Cảnh tro tàn của cuốn vở bị đốt trong bếp nhà đẻ. Cảnh tôi quỳ lạy van xin giữa bùn lầy dưới chữ Hỉ đỏ chót. Cảnh bà Châu dưới ánh đèn hiu hắt hỏi tôi: “Còn muốn học nữa không?” Cảnh chuồng lợn trống trơn. Cảnh tấm bảng đen nhỏ xíu treo ở chuồng bò.
Tôi viết một mạch không ngừng nghỉ.
Tôi không viết về sự oán trách, cũng không viết về lòng thù hận. Tôi viết về việc một con người vươn lên từ bùn lầy để tìm thấy con đường sáng, về việc tri thức mang lại cho những người thấp cổ bé họng những cơ hội đổi đời ra sao. Viết về những người phụ nữ cũng có thể đứng ngược chiều gió của thời đại, dùng chính đôi bàn tay mình để bước về phía trước.
Tiếng chuông hết giờ vang lên, tôi buông bút, cổ tay mỏi nhừ tê rần.
Bước ra khỏi phòng thi, bà Châu và Đại Trụ nhào ngay tới. Bà Châu hỏi dồn: “Sao rồi con?”
Tôi mỉm cười: “Câu nào biết con đều viết kín hết rồi.”
Bà thở phào, lập tức lôi từ trong túi ra chiếc bánh ngô: “Ăn đi.”
Môn Toán thứ hai là sở trường của tôi. Vừa cầm đề, tôi lướt nhanh một lượt, bụng thầm chắc mẩm. Các bài đầu suôn sẻ, nhưng bài tự luận cuối cùng khá khoai. Tôi giải được một nửa thì tắc tịt.
Thời gian cứ trôi tuột đi, tiếng loạt xoạt lật giấy thi xung quanh như những giọt mưa đá nện thẳng vào tim. Tôi hít một hơi thật sâu, lật mặt sau tờ nháp trắng tinh, vẽ lại hình.
Chính lúc đó, tôi nhớ tới lời thầy hiệu trưởng Nghiêm: Sách cũ, nhưng kiến thức không bao giờ cũ. Cũng nhớ lời cô Diệp dặn: Đừng chỉ học vẹt, phải biết tư duy.

