Tội danh của Trầm Mặc, ngoài những cáo buộc ban đầu, lại càng chồng chất thêm nhiều mục mới.
Cuối cùng, tòa tuyên án.
Trầm Mặc bị kết án hai mươi năm tù giam vì tội lừa đảo tài chính, rửa tiền, bắt cóc tống tiền cùng nhiều tội danh khác, bị tước quyền chính trị năm năm, đồng thời tịch thu toàn bộ tài sản cá nhân.
Hai mươi năm.
Còn nhiều hơn dự đoán của luật sư Vương đến năm năm.
Khoảnh khắc bản án được tuyên, tôi đang ở nhà, cắt tỉa mấy chậu lan mẹ tôi trồng.
Luật sư Vương gửi kết quả cho tôi qua WeChat.
Tôi nhìn dòng chữ ngắn gọn trên màn hình, ngón tay khựng lại giữa không trung, lưỡi kéo chỉ cách một nụ hoa chưa nở chưa đầy một milimét.
Tôi không cảm thấy hân hoan như tưởng tượng, cũng không có khoái cảm của kẻ trả được mối thù lớn.
Chỉ thấy bình thản.
Giống như vừa xem xong một bộ phim dài lê thê, khi dòng chữ “Kết thúc” hiện lên trên màn hình, đèn bật sáng, tôi từ câu chuyện của người khác bước ra, trở về với cuộc sống của chính mình.
Trầm Mặc — người đàn ông từng giữ vai chính trong cuộc đời tôi suốt năm năm — cuối cùng, cũng đã hoàn toàn rút khỏi sân khấu.
Về phần Lâm Uyển, tòa án xét đến việc cô ta lập công lớn và chủ động nhận tội, cuối cùng phán cô ba năm tù với thân phận đồng phạm.
Cô ta đã phải trả giá cho sự ngu ngốc và tham lam của mình. Nhưng so với Trầm Mặc, đây có lẽ đã là kết cục nhẹ nhàng nhất với cô ấy rồi.
Ba năm sau, cô ấy mới chỉ hai mươi bảy tuổi. Cuộc đời, vẫn còn có thể bắt đầu lại.
Còn Trầm Mặc, đến khi hắn ra tù, đã gần sáu mươi.
Cuộc chiến này, cuối cùng tôi đã là người chiến thắng.
Sau khi xử lý xong tất cả, tôi tự thưởng cho mình một kỳ nghỉ dài.
Tôi không chọn những thành phố du lịch đông đúc, mà đi Tây Tạng.
Tôi mang theo một ba lô gọn nhẹ, một mình, bước lên chuyến tàu đến Lhasa.
Khung cảnh ngoài cửa sổ từ những tòa nhà cao tầng, đến cánh đồng mênh mông, rồi dần chuyển sang những dãy núi phủ đầy tuyết trắng. Trái tim tôi cũng dần dần mở ra theo khung cảnh ấy, từng chút một, tĩnh lặng và thảnh thơi.
Ở Lhasa, tôi không đi những điểm đến đông nghịt người. Tôi chỉ mỗi ngày lang thang trên phố Barkhor, hòa vào dòng người đi xoay kinh luân, vòng này qua vòng khác.
Nắng rất gắt, không khí loãng.
Tôi nhìn những tín đồ nằm phủ phục khấu đầu trên đường, áo quần rách nát, người đầy bụi đất, nhưng ánh mắt lại trong veo và kiên định lạ kỳ.
Thế giới của họ rất đơn giản, chỉ có niềm tin.
Tôi bỗng cảm thấy có chút ghen tị với họ.
Nửa tháng ở Lhasa, tôi như được thanh tẩy. Những yêu – hận – tình – thù từng ngập sâu trong tim, những toan tính và oán hận thấu xương, đều theo gió trên đỉnh Potala mà tan biến sạch.
Ngày cuối cùng trước khi rời Lhasa, tôi nhận được một cuộc điện thoại không ngờ tới.
Là mẹ của Trầm Mặc gọi đến.
Giọng bà khàn đặc và mỏi mệt.
“Tô Thanh… bác có thể, gặp cháu một lát không?”
18
Tôi đồng ý gặp bà.
Chúng tôi hẹn nhau ở quán trà ngọt dưới tầng nhà trọ nơi tôi ở.
Khi tôi đến, bà ấy đã ngồi đó rồi.
Bà mặc một bộ quần áo tối màu không hợp khung cảnh, trông lạc lõng giữa những người dân địa phương khoác áo choàng Tây Tạng rực rỡ sắc màu.
Trước mặt bà là một ly trà ngọt, còn nguyên chưa đụng đến.
Thấy tôi, bà lúng túng đứng dậy.
“Ngồi đi.” Tôi nói.
Bà ngồi xuống một cách cẩn trọng, hai tay đặt lên đầu gối, trông như một đứa trẻ vừa làm sai chuyện gì.
“Bác… sao lại biết cháu ở đây?” Tôi hỏi. Tôi không nói với ai về hành trình của mình cả.
“Bác hỏi ba cháu.” Bà đáp, “Bác năn nỉ ông ấy rất lâu, ông ấy mới chịu nói cho bác biết.”
Tôi gật đầu, đã hiểu.
“Bác tìm cháu có chuyện gì?” Tôi đi thẳng vào vấn đề.
Bà lấy từ chiếc túi vải bên mình ra một vật gì đó được bọc kỹ trong khăn tay, đẩy về phía tôi.
“Cái này, cho cháu.”
Tôi mở khăn tay ra, bên trong là một chiếc vòng ngọc.
Nước ngọc rất đẹp, chất ngọc trong suốt, nhìn qua cũng biết là rất quý giá.
Tôi nhận ra chiếc vòng này. Đây là vật truyền gia bảo của nhà họ Trầm, nghe nói được truyền lại từ thời nhà Thanh. Lúc tôi và Trầm Mặc kết hôn, bà từng tiếc không muốn đưa ra, chỉ cho tôi một chiếc nhẫn vàng.
“Bác đưa cháu cái này là có ý gì?” Tôi hỏi.
“Đây là… là món nợ nhà họ Trầm chúng tôi còn thiếu cháu.” Bà cúi đầu, giọng nhỏ như muỗi, “Trầm Mặc… nó có lỗi với cháu. Chúng tôi… cũng có lỗi với cháu.”
“Chúng tôi đã bán căn nhà cũ rồi.” Bà nói tiếp, giọng chậm rãi, “Tiền bán đấu giá đem trả một phần lãi ngân hàng, phần còn lại chỉ đủ để hai bác mua một căn hộ một phòng ngủ ở huyện quê. Từ nay về sau, hai bác sẽ sống nốt phần đời còn lại ở đó.”
“Chiếc vòng này là món đồ cuối cùng còn giá trị trong nhà. Bác nghĩ, nên để lại cho cháu.”
Tôi nhìn chiếc vòng, rồi lại nhìn bà.
Nếp nhăn trên gương mặt bà sâu hơn so với lần gặp trước. Tóc bạc gần như trắng xóa, ánh mắt đã chẳng còn chút tinh anh hay cay nghiệt ngày xưa, chỉ còn sự trống rỗng và buông xuôi.

