Các hộ công đều rất bận, với bệnh nhân như ông ta, không có người nhà tới thăm, lại chẳng nhét phong bì, đương nhiên họ cũng không có sắc mặt tốt. Thay thuốc, lật người, xử lý chất thải, động tác thô bạo, lời nói thì đầy vẻ ghét bỏ.

Trước đây ông ta phong quang bao nhiêu, bây giờ lại chật vật bấy nhiêu.

ông ta muốn chết.

Nhưng ông ta đến cả khả năng cầu chết cũng không có. Cánh tay còn cử động được kia, thậm chí còn với không tới chuông gọi trên đầu giường.

ông ta chỉ có thể nằm đó, mở đôi mắt đục ngầu, nhìn lớp vôi tường trên trần nhà bong tróc từng mảng, ngày qua ngày.

Thù hận và hối hận, như hai con rắn độc, không ngừng gặm nhấm trái tim thối rữa của ông ta.

ông ta hận tôi, hận tôi tính kế tàn nhẫn đến mức ấy, khiến ông ta sống không bằng chết.

ông ta hận Cố Tư Tề, hận nó cướp đi tất cả những gì vốn dĩ thuộc về mình.

ông ta cũng hận Chu Cầm và Cố An An, hận sự vô tình và phản bội của họ.

Nhưng người ông ta hận nhất, lại là chính mình.

Vô số lần trong những đêm khuya tỉnh mộng, ông ta từng nghĩ, nếu như ông ta không bị dục vọng che mờ mắt, nếu như ông ta có dù chỉ một chút chân tình với tôi và với cái nhà này.

Thì cuộc đời ông ta, có phải đã là một cảnh ngộ khác rồi không.

Thế nhưng, không có nếu như.

Cuộc đời ông ta, đã sớm được viết rõ kết cục. Đó là trong nỗi hối hận vô tận và những cơn bệnh tật dơ bẩn, cô độc mà nhục nhã, từ từ thối rữa đi.

Còn Chu Cầm và Cố An An, những ngày tháng của họ cũng chẳng khá hơn ông ta là bao.

Hai mẹ con họ bỏ trốn khỏi thành phố đó trong đêm, đi tới một thị trấn nhỏ ở phía Nam, nơi không ai biết họ là ai.

Số tiền ít ỏi mà Chu Cầm cầm cố nữ trang đổi được, rất nhanh đã tiêu sạch.

Cả đời bà ta chưa từng đi làm lấy một ngày, cũng chẳng biết kỹ năng gì. Vì để sống tiếp, bà ta chỉ có thể đi rửa bát ở nhà hàng, hoặc làm thu ngân trong siêu thị.

Mỗi ngày đứng từ sáng đến tối, hết một tháng tiền lương còn không đủ để Cố An An mua một đôi giày như trước kia vẫn thường đi.

Cố An An hoàn toàn không thể thích ứng với cuộc sống khác biệt một trời một vực như thế này.

Cô ta ghét căn phòng trọ chật chội và tồi tàn, oán trách sự vô năng của mẹ mình. Cô ta từ chối đến ngôi trường trung học ở thị trấn đó để học, ngày nào cũng nhốt mình trong phòng, cãi nhau với Chu Cầm.

Trong một trận cãi vã dữ dội, Cố An An như phát điên mà hét vào mặt Chu Cầm: “Con thật hối hận vì có một người mẹ như bà! Nếu không phải bà quyến rũ cha con, con có rơi vào cảnh như bây giờ không!”

Chu Cầm tát mạnh một cái lên mặt con gái, bản thân cũng sụp đổ mà bật khóc nức nở.

Cặp mẹ con từng được Cố Ngôn Thâm xem là “tình yêu đích thực” và “niềm tự hào” ấy, giờ đây lại trở thành kẻ thù mà đối phương căm hận nhất trong mắt nhau.

Tương lai của họ, cũng giống như Cố Ngôn Thâm, là một mảng bóng tối không nhìn thấy bất kỳ tia sáng nào.

Trái ngược hoàn toàn với sự u ám và tuyệt vọng của họ, là ánh nắng ở Nice, Pháp.

Cố Tư Tề đã hoàn toàn thích ứng với vai trò của một người cha.

Từ lúc ban đầu luống cuống chân tay, đến bây giờ anh đã có thể thuần thục thay tã, pha sữa, ru con trai ngủ.

Cố Hy An được anh chăm sóc đến trắng trẻo bụ bẫm, trông như một búp bê sứ.

Thằng bé đã biết ê a gọi “ba”, còn dùng đôi mắt to giống hệt tôi, tò mò quan sát thế giới này.

Cố Tư Tề thường ôm nó, ngồi trên chiếc ghế đu ở sân thượng, kể cho nó nghe những chuyện tôi từng khởi nghiệp trước đây.

Anh sẽ chỉ về phía biển xa, nói với con trai: “Nhìn kìa, Hy An, bà nội con là từ những con sóng còn dữ dội hơn cả biển này mà xông ra đấy.”

Anh cũng sẽ lấy ảnh của tôi ra, để con trai nhớ gương mặt của bà nội.

“Bà ấy là một người hùng.” Anh luôn nói như vậy.

Trong những lời kể và hồi ức ấy, Cố Tư Tề cũng hoàn thành sự trưởng thành của chính mình.