Năm ấy, ta ba tuổi rưỡi.
Ngày nương mất, cha quẳng ta trước cửa miếu hoang rồi bỏ đi.
Ông ta bảo, không còn nương, ta chỉ là thứ của nợ tốn cơm tốn gạo.
Ta ngồi co ro trên bậc đá gặm nửa cái bánh bao nguội ngắt, thì một lão ông râu tóc bạc phơ bước tới, ngồi xổm xuống nhìn ta.
Lão bảo cốt cách ta thanh kỳ.
Ta bảo ta đói.
Lão cho ta một củ khoai lang nướng.
Thế là ta đi theo lão.
Sư phụ đưa ta lên núi, các sư huynh sư tỷ trên núi đều cười ta lùn tịt.
Ta chẳng lùn, ta mới ba tuổi rưỡi, ta còn lớn nữa.
Sư phụ dạy ta nhận mặt chữ, niệm chân ngôn. Ta niệm được nửa câu thì hắt xì một cái, lửa bốc lên đốt trụi chòm râu của người.
Người bảo ta là thiên linh căn trăm năm khó gặp.
Ta chẳng hiểu linh căn là cái giống gì.
Ta chỉ biết, theo sư phụ thì có khoai nướng mà ăn.
Về sau, cha tìm tới, bảo muốn đón ta về.
Ông ta phát tài rồi, nói ta là cốt nhục ruột thịt, muốn nhận lại con gái.
Sư phụ hỏi ta có muốn đi không.
Ta trốn sau vạt áo sư phụ.
Ta bảo, ta không có cha, ta chỉ có sư phụ thôi.
1
“Đứa nhỏ này, không cần nữa.”
Cha xách ta từ trên xe bò xuống, đặt phịch trước cửa miếu hoang, chẳng khác nào quẳng một bó củi khô.
Mông đập xuống bậc đá, đau điếng.
Nhưng ta không khóc.
Nương từng dặn, khóc nhiều thì sống mũi sẽ tẹt.
Mũi ta vốn đã nhỏ rồi, không thể tẹt thêm được nữa.
Cha xoay người cất bước, chân đi thoăn thoắt.
Ta cất tiếng gọi: “Cha.”
Bước chân ông ta thoáng khựng lại, nhưng tuyệt nhiên không ngoái đầu.
Bánh xe bò lộc cộc lăn xa dần, khuất sau bóng cây cổ thụ vẹo vọ nơi đầu thôn rồi biến mất tăm.
Bức tượng đất trong miếu đã gãy mất một cánh tay.
Tro tàn trong lư hương chẳng biết bao lâu rồi không ai quét dọn, gió thốc qua một cái làm ta sặc ho sù sụ.
Ta thò tay vào ngực áo, lôi ra nửa cái bánh bao.
Là sáng nay trước khi ra cửa, ta lén giấu đi.
Hôm nương hạ táng, trong nhà có bao nhiêu người tới ăn cỗ.
Ta với không tới mặt bàn, đại bá nương cũng chẳng cho ta ngồi vào mâm.
Bà ta mắng đứa con gái mất mẹ mang lại điềm gở xú quẩy.
Thế nên ta thừa lúc không ai để ý, nhón lấy một cái bánh bao trên bếp lò.
Ăn hết một nửa, nửa còn lại ta ôm vào lòng ngủ một giấc đẫy.
Tỉnh dậy đã bị cha xách tọt lên xe bò.
Bánh bao cứng ngắc cộm cả răng, ta bẻ một mẩu nhỏ, ngậm trong miệng cho mềm ra rồi mới nhai.
Giá như nương còn sống thì tốt biết mấy.
Bánh bao nương hấp vừa to vừa trắng, cắn một miếng là khói nóng nghi ngút phả ra.
Trời tối sầm lại.
Trong miếu chẳng có lấy một ngọn đèn.
Ta thu mình thành một bọc nhỏ, tựa lưng vào bậu cửa.
Gió lùa vào từng cơn, lạnh buốt thấu xương.
Ta chẳng sợ ma quỷ.
Nương bảo quỷ cũng chỉ là người đã khuất, người chết rồi thì chẳng cắn ai bao giờ.
Ta chỉ sợ con chó vàng lớn.
Cái con ở phía đông thôn ấy, hễ thấy người là xông ra cắn xé.
Dưới bắp chân ta giờ vẫn còn một vết sẹo dài.
Bên ngoài miếu bỗng có tiếng động.
Không phải tiếng chó, mà là tiếng bước chân.
Rất khẽ, chậm rãi, dẫm lên sỏi đá lạo xạo.
Ta vội giấu nửa cái bánh bao ra sau lưng.
Lỡ như là kẻ tới cướp miếng ăn thì sao.
Một bóng người hiện ra nơi cửa miếu.
Dáng người cao gầy, khoác đạo bào màu tro xám cũ kỹ, lưng hơi còng.
Chòm râu trắng dài thượt, rủ xuống gần tới bụng.
Tay lão chống một cây trượng, trên đầu trượng treo một chiếc hồ lô nhỏ.
Chiếc hồ lô đung đưa dưới ánh trăng, vậy mà lại phát ra ánh sáng nhàn nhạt.
Ta chằm chằm nhìn chiếc hồ lô ấy.
Đẹp thật.
“Chà.”
Lão ông ngồi xổm xuống, híp mắt nhìn ta: “Ở đâu ra một hạt đậu nhỏ thế này?”
“Ta không phải hạt đậu.” Ta đáp: “Ta ba tuổi rưỡi rồi.”
“Ba tuổi rưỡi, ghê gớm thật đấy.”
Lão cười một tiếng, ngồi phịch xuống bậc đá bên cạnh ta.
Từ trong ống tay áo, lão móc ra một thứ, nóng hôi hổi, bốc khói nghi ngút.
Là một củ khoai lang nướng.
Ta chưa kịp mở miệng thì bụng đã lên tiếng thay, kêu vang một tiếng “rột”.
Lão đưa củ khoai tới trước mặt ta.
Ta nhìn lão, lại nhìn củ khoai.
Rồi đưa tay đón lấy.
Khoai nóng bỏng tay, ta phải chuyền qua chuyền lại giữa hai bàn tay nhỏ xíu.
Lão lại bật cười.
“Ngươi tên là gì?”
“A Thai.”
“Ai đặt cho?”
“Nương ta.”
“Thế nương ngươi đâu?”
“Mất rồi.”
Ta bẻ đôi củ khoai, bên trong vàng ươm, thơm ngọt phỏng cả môi.
Ngon hơn bánh bao gấp trăm lần.
Lão không hỏi thêm nữa, nghiêng đầu ngắm nghía ta mấy bận.
Đoạn, lão đưa tay ấn hờ lên đỉnh đầu ta, trong lòng bàn tay phát ra một luồng sáng dìu dịu.
Y hệt thứ ánh sáng trên chiếc hồ lô kia.
Ta chẳng hề sợ hãi.
Bởi vì khoai nướng thật sự rất ngọt.
“Thiên linh căn.”
Lão thu tay về, giọng điệu có chút cổ quái, hệt như cái giọng của Vương đồ tể trong thôn mỗi khi nhìn thấy một con lợn béo mầm chuẩn bị đem đi mổ.
“Nha đầu, đi theo ta nhé?”
“Đi đâu?”
“Lên núi.”
“Trên núi có gì?”
“Có cơm ăn.”
“Có khoai nướng không?”
“Có.”
Ta nhét miếng khoai cuối cùng vào miệng, đứng bật dậy, phủi sạch bụi đất trên mông.
“Đi thôi.”
Lão ông ngẩn người: “Không nghĩ lại sao?”
“Nghĩ gì nữa?” Ta nói: “Ông cho ta ăn khoai nướng, ông là người tốt.”

