Người dịu dàng như anh có biết không, em đã đầy thương tích…”
…
Mì nóng quá, thật sự rất nóng.
Tôi ăn rất vội, nước mắt rơi lộp bộp vào bát.
Tôi nhớ đến Hứa Đường khi còn nhỏ, mỗi lần thi cuối kỳ nếu đạt kết quả tốt, sẽ được ba dẫn đến đây ăn một bát mì nước vị cũ.
Bát mì đó thật thơm.
Hơi nóng bốc lên, trong làn sương mờ là gương mặt cười hiền của ba.
Đời người này, thật sự không có nhiều khoảng thời gian đẹp để ngoảnh lại.
Có những cuộc gặp gỡ, có lẽ ngay từ đầu đã định sẵn là một bi kịch.
Cũng giống như khi tôi quen Trì Dã, năm tôi mười sáu tuổi, đang ở trong giai đoạn u ám nhất của cuộc đời.
Năm đó, ba tôi gặp tai nạn giao thông, trở thành người thực vật, tài xế gây tai nạn bỏ trốn.
Năm đó, mẹ dẫn tôi đến nhà máy giấy nơi ba làm việc, đòi số tiền lương bị chủ nợ.
Chín nghìn hai trăm ba mươi tệ.
Vì số tiền đó, bà kéo tôi ăn ngủ ngay trong văn phòng nhà máy, trải chiếu nằm, chặn chủ mấy ngày liền.
Năm đó tôi học lớp mười, học rất giỏi, là lớp trưởng học tập.
Một cô gái hiền lành, coi việc học là điều rất quan trọng.
Tôi nhẹ giọng nói với mẹ:
“Bên trường con chỉ xin nghỉ hai ngày, con muốn đến nói với thầy cô một tiếng.”
Bà lập tức mắng xối xả:
“Trường học? Học cái gì! Ba mày sống dở chết dở rồi, mày còn nghĩ đến học à?! Không đòi được tiền thì học cái gì!”
Mẹ tôi, tên là Trần Mậu Quyên.
Là một người tính tình rất tệ, lạnh lùng ích kỷ.
Cũng là một người rất tồi.
Từ nhỏ, tôi lớn lên trong những trận cãi vã không ngừng của bố mẹ.
Mẹ chê ba vô dụng, kiếm được ít tiền.
Ba chê mẹ suốt ngày đánh mạt chược, không chăm con, cũng không nấu cơm.
Một gia đình rất bình thường, cha mẹ không yêu nhau, nuôi dưỡng ra một đứa trẻ nhất định sẽ nhạy cảm và thiếu thốn tình cảm.
Rất lâu sau tôi mới biết, Trần Mậu Quyên và ba tôi là tái hôn.
Tôi đương nhiên là con ruột của bà, nhưng bà không chỉ có một mình tôi.
Bà vốn là một người phụ nữ bỏ chồng bỏ con.
Năm đó bỏ lại hai đứa con, trên tàu hỏa tình cờ quen ba tôi, liền theo ông xuống tàu.
Nghe nói hai đứa con kia đến nay vẫn sống ở vùng núi hẻo lánh, nơi trẻ con vài tuổi đã phải đeo giỏ đi làm ruộng, quần áo rách rưới.
Bà sợ nghèo, theo ba tôi, vốn nghĩ sẽ sống tốt ở thành phố lớn.
Đáng tiếc ba tôi chỉ là một công nhân bình thường của nhà máy giấy ngoại ô, đến vợ còn chưa cưới được.
Bà dần oán trách, mắng ba tôi lừa dối bà.
Khi tôi học mẫu giáo, bà lại nghiện mạt chược, từ đó không thể dứt ra.
Suốt ngày không về nhà, về là đòi tiền.
Ba tôi ngoài giờ làm việc, việc nhà đều làm hết.
Tình cảm từ lâu đã không còn, nhưng vẫn sống chung, bởi vì ba nói:
“Dù sao cũng là mẹ con, có mẹ vẫn hơn không có mẹ.”
Nhưng chính người mẹ đó, năm tôi mười sáu tuổi, dẫn tôi đi chặn chủ nhà máy giấy.
Bắt được cơ hội liền chặn xe ông ta, như phát điên, tự làm rối tóc mình, kéo bung áo lộ phần ngực trắng, khóc lóc gọi mọi người đến xem.
Bà dùng cách thu hút ánh nhìn như vậy, vừa khóc vừa nói:
“Không sống nổi nữa rồi, ba nó thành ra như vậy, còn nợ lương không trả, ép mẹ con chúng tôi đi chết mà…”
Ông chủ trong xe giục tài xế lái đi, không muốn để ý.
Bà thấy vậy liền kéo tôi ra trước đầu xe, lấy từ trong túi ra một chai thuốc trừ sâu.
Trong chai đó là paraquat mà bà không biết mua từ đâu.
Tôi đã là học sinh cấp ba, đương nhiên biết điều đó có nghĩa gì.
Tôi hoảng sợ giãy giụa, vừa khóc vừa kêu:
“Mẹ! Mẹ! Đừng!”
Bà sức lực lớn đến vậy, như phát điên, ép miệng tôi ra, giơ chai đổ vào.
“Ép chúng tôi đi chết à, hôm nay mẹ con tôi chết cho các người xem…”
Ông chủ trên xe cuối cùng cũng sợ, vội vàng xuống xe:
“Chị ơi! Có gì từ từ nói! Chúng ta đi lấy tiền ngay!”
Trần Mậu Quyên hài lòng đi cùng họ lấy tiền.
Tôi quỳ trong nhà máy giấy, gào khóc, nôn không ngừng, móc họng.
Bà đã đổ vào miệng tôi rồi.
Từ nhỏ tôi đã nghe bà nội nói, paraquat là loại thuốc cực độc, uống vào thì không ai sống được, sẽ chết rất đau đớn.
Tôi sợ đến mức đó, vừa khóc vừa nôn, toàn thân run rẩy không ngừng.
Cho đến khi Trần Mậu Quyên cầm tiền, tươi cười đi ra.
Bà không vui đá tôi một cái, mắng:
“Không chết đâu, trong đó là nước máy, nhìn cái bộ dạng vô dụng của mày, chẳng làm được gì!”
Trần Mậu Quyên, là mẹ tôi.
Mẹ ruột.
Nhưng số tiền chín nghìn hai trăm ba mươi đó, bà không dùng cho tôi một đồng nào.
Bà chìm trong mạt chược, vẫn rất ít khi về nhà.
Quần áo theo mùa, tiền học ở trường, bà đều nói một câu:
“Đi tìm cô mày mà xin! Ba mày thành ra như vậy, tao không bỏ đi đã là phúc đức nhà mày rồi!”
Bà muốn tôi cái gì cũng đi tìm cô.
Hận không thể đem cả ba tôi đang nằm đó không ai chăm sóc, nhét sang nhà cô.
Bà thường nói nhất một câu:
“Hứa Đường, mày nên biết đủ, nếu tao đi rồi, mày đừng học nữa, nghỉ học ở nhà chăm ba mày đi.”
Bà nói không sai.
Bà nội tôi tuổi đã cao, luôn do cô chăm sóc.
Gia đình cô đông người, không khá giả, còn phải lo cho bản thân, tiền sinh hoạt của anh họ đi học đại học đều do tự làm thêm kiếm.
Ba tôi là trách nhiệm của tôi, không phải của ai khác.
Chính vì vậy, tôi học cấp ba đều đi về trong ngày, cuối tuần và kỳ nghỉ hầu như ở nhà, giặt giũ nấu cơm, giúp ba xoa bóp lau rửa.
Không đến mức bất đắc dĩ, tôi không dám mở miệng xin tiền cô.
Bởi vì sợ chú dượng không vui.
Cho nên quanh năm tôi mặc đồng phục, khi các bạn so sánh giày dép, tôi mang đôi giày vải ba mươi tệ đến rách keo.
Chính trong hoàn cảnh đó, tôi quen Trì Dã.
Học kỳ đầu lớp mười một, anh chuyển trường đến trung học Gia Thành.
Nghe nói lý do chuyển trường là vì anh là một tên côn đồ, khó quản lý, đã đánh cả trưởng phòng giáo vụ.
Gia đình anh có tiền có thế, sau khi chuyện được dàn xếp, ba mẹ anh quyết định chuyển trường cho anh.
Hiệu trưởng trường tôi lại là người quen cũ của ba mẹ anh.
Điều này khiến anh nhanh chóng thích nghi ở Gia Thành.

