Mẫu thân ta từ trong phòng bước ra, nhàn nhạt đáp một tiếng: “Làm phiền phu nhân nhớ tới, không thiếu gì cả.”

Hai người nói vài câu khách sáo, đích mẫu liền rời đi.

Ta đứng tại chỗ, đợi bóng bà ta biến mất ngoài cổng viện mới đi tới bên cạnh mẫu thân.

“Bà ta tới dò ý,” mẫu thân ta nói, giọng đè rất thấp, “xem thái độ của chúng ta là gì.”

“Con biết.”

“Bà ta sẽ không dễ dàng để hôn sự này thành,” mẫu thân ta nói,

“tỷ tỷ của con còn chưa nói thân, nếu con gả vào Tĩnh vương phủ, hôn sự của tỷ tỷ con sẽ thấp đi một bậc. Cơn tức này bà ta nuốt không trôi.”

Ta nhìn cánh cổng viện đã đóng lại, nghĩ một lát rồi nói:

“Mẫu thân, nếu bên Tĩnh vương phi đưa thiếp mời tới, người nói con có nên nhận không?”

Mẫu thân ta trầm ngâm chốc lát.

“Nhận,” bà nói, “mỉm cười mà nhận, khiêm nhường mà nhận, dựng mình thành một đứa trẻ biết lễ hiểu chuyện.” Bà dừng lại.

“Trong mắt Tĩnh vương phi không chứa nổi hạt cát, nhưng thứ bà ấy thích nhất là một người không tranh không đoạt mà làm việc ‘thỏa đáng’.”

Ta ghi nhớ câu ấy trong lòng.

Thiếp mời tới vào ngày thứ ba.

Tĩnh vương phi mời ta qua phủ uống trà, thời gian là chiều ngày kia, lời lẽ khách khí, quy cách chu toàn.

Xuyên qua từng con chữ, ta lờ mờ đọc ra một sự đánh giá.

Đích mẫu biết chuyện thiếp mời, tối hôm ấy liền tìm một cái cớ,

sai người truyền lời rằng ngày mai muốn đưa ta tới thành đông dự một yến tiệc, bảo ta chuẩn bị xiêm y.

Yến tiệc ở thành đông, vừa khéo ngay trước ngày hẹn của Tĩnh vương phi một hôm.

Ta ngồi trong phòng, nhìn tấm thiếp ấy rất lâu.

Sau đó ta cầm bút, tự tay hồi thiếp cho Tĩnh vương phủ, nói chiều ngày kia nhất định sẽ tới cửa bái tạ.

Ngày thứ hai, ta cáo bệnh, không đi thành đông.

Ngày thứ ba, ta tới Tĩnh vương phủ.

4

Viện của Tĩnh vương phi trồng đầy tường dây thường xuân, tháng tư đã xanh rậm.

Ta theo sự dẫn đường của thị nữ đi vào, đổi giày đế mềm, theo nàng đi qua hai cổng nguyệt động, mới vào tới chính sảnh.

Tĩnh vương phi ngồi bên cửa sổ, thấy ta vào liền đặt sách xuống, đánh giá ta chốc lát rồi nói: “Ngồi đi.”

Tĩnh vương phi hỏi ta vài câu chuyện nhà, hỏi bình thường ta đọc sách gì, học nữ công gì, có biết quản sổ sách không.

Ta lần lượt đáp, không nói nhiều cũng không nói ít, nắm chừng mực ở mức “thỏa đáng”.

Trên bàn còn bày mấy đĩa điểm tâm, trong đó có một đĩa là kiểu bánh đậu sa tô ta làm hôm ấy, chỉ là làm không đều bằng ta.

Ta âm thầm ghi nhớ điều này.

“Đích mẫu của ngươi,” Tĩnh vương phi đột nhiên mở miệng,

“hôm qua sai người tới chỗ ta, nói ngươi từ nhỏ thể yếu, e không kham nổi việc quản gia, khuyên ta tìm người phù hợp khác.”

Ta bưng chén trà trong tay, không động.

“Khi ấy ta nghe xong,” Tĩnh vương phi nói tiếp, giọng nghe không ra vui giận, “liền bảo người đuổi bà ta đi.”

Ta ngẩng đầu, Tĩnh vương phi đang nhìn ta.

“Ta thích tự mình nhìn,” bà nói, “lời người khác nói, ta không tin.”

Ta đặt chén trà xuống, đoan đoan chính chính phúc thân: “Đa tạ phu nhân.”

“Không cần tạ ta,” bà nói, “ta hỏi ngươi, đứa trẻ Huyền Hành kia ngươi đã gặp rồi, bản thân ngươi có tính toán gì?”

Đây là một câu cực kỳ trực tiếp, ta nhanh chóng cân nhắc một chút rồi đáp: “Thần nữ không có tính toán, tất cả đều nghe theo Thái hậu và phu nhân làm chủ.”

Tĩnh vương phi nghe vậy, khẽ cười.

Nụ cười ấy chân thật hơn mọi biểu cảm vừa rồi: “Mẫu thân ngươi dạy rất tốt.”

Trong lòng ta chợt nhảy lên, cảm thấy đã ổn, nhưng trên mặt không lộ ra.

Tạ Huyền Hành xuất hiện khi ta đứng dậy cáo từ.

Hắn từ bên ngoài đi vào, thay một bộ thường phục:

“Đến rồi à.”

Ta phúc thân: “Bái kiến thế tử.”

“Lần trước chưa hỏi,” hắn dừng lại cách ta ba bước, “ngươi tên gì?”

“Triệu Lan.”

Hắn đọc khẽ lại hai chữ ấy một lần, gật đầu, không nói gì thêm rồi đi vào gian trong.