Tôi lau chùi lại từng ngóc ngách trong nhà.

Cắt tỉa lại chậu trầu bà trên bệ cửa sổ, thay vỏ gối ôm mới trong phòng khách.

Bốn giờ chiều.

Bốn rưỡi chiều.

Năm giờ.

Năm giờ mười bảy phút.

Tiếng ổ khóa xoay vặn vang lên.

Lúc tôi từ trong bếp bước ra, bước chân rất chậm.

Lần này tôi không muốn chạy ùa ra nữa.

Tôi muốn được nhìn anh bước vào thật cẩn thận.

Cửa mở.

Anh đứng đó.

Lại gầy hơn lần trước rồi.

Hai má hóp lại, cổ áo đồng phục rộng ra một khoảng.

Nhưng anh đứng rất thẳng.

Lúc nào cũng thẳng tắp như thế.

Trên tay anh không còn xách theo dâu tây nữa.

Hai tay anh đều trống trơn.

Khoảnh khắc nhìn thấy tôi, mắt anh đỏ hoe.

Chỉ một chớp mắt thôi.

Rồi anh nhanh chóng điều chỉnh lại biểu cảm bình tĩnh đó, thay giày, đặt ba lô xuống, bước tới.

“Anh về rồi.” Anh nói.

Giống hệt hai chữ của lần trước.

Nhưng lần này, tôi không kìm nén được nữa.

Tôi bước tới, vùi mặt vào ngực anh, túm chặt lấy cổ áo anh.

Không khóc thành tiếng.

Nhưng nước mắt đã làm ướt sũng vạt áo đồng phục của anh.

Tay anh nhẹ nhàng đặt lên sau gáy tôi, không nói lời nào.

Qua rất lâu.

Rất lâu sau.

Anh mới lên tiếng, giọng hơi khàn.

“Xin lỗi em, lần này thời gian đi quá lâu.”

Tôi lắc đầu, ra sức lắc đầu.

Chẳng nói được gì.

Không thốt nên lời.

Bữa tối ăn ở nhà.

Tôi làm một bàn đầy ắp thức ăn.

Anh gắp từng đũa từng đũa, vẫn với tốc độ rất chậm đó, dường như đang dùng từng miếng cơm để cảm nhận cái sự thật là “đã sống sót trở về”.

Ăn được nửa chừng, anh bỗng dừng lại, nhìn tôi.

“Tô Niệm.”

“Dạ?”

“Có lẽ anh sắp chuyển công tác rồi.”

Đũa trên tay tôi khựng lại.

“Ý anh là sao?”

“Sau nhiệm vụ lần này, thủ trưởng gọi anh lên nói chuyện. Ông bảo số giờ bay của anh đã đủ rồi, những thành tích cần đạt cũng đã lấy được hết. Hỏi anh có muốn sang trường quân đội để làm công tác giảng dạy không.”

Giảng dạy.

Sang trường quân đội dạy học.

Vậy có nghĩa là —

“Sau này không cần phải bay nữa sao?” Giọng tôi hơi run rẩy.

Anh lắc đầu: “Vẫn sẽ bay, nhưng không cần ra tuyến đầu nữa. Căn cứ cách đây hai tiếng lái xe, mỗi tháng có thể về hai ba lần.”

Mỗi tháng hai ba lần.

Không phải một năm một lần.

Mà là mỗi tháng hai ba lần.

Tôi đặt đũa xuống, cúi gập đầu.

Nước mắt lã chã rơi xuống mặt bàn, rơi xuống mép bát, rơi cả vào đĩa cá nấu dưa chua anh đã ăn quá nửa.

Anh đưa khăn giấy cho tôi, không giục, cứ lặng lẽ chờ đợi như thế.

Đợi tôi khóc xong, anh mới mở miệng: “Nhưng có một điều kiện.”

“Điều kiện gì?” Tôi vừa xì mũi vừa hỏi.

“Trước khi đi sẽ có một buổi lễ, thủ trưởng bảo phải có mặt người nhà. Đến lúc đó em phải đi cùng anh một chuyến.”

“Lễ gì thế?”

“Trao huân chương.”

Một tuần sau.

Hội trường lớn của một quân khu.

Tôi mặc một chiếc váy liền thân màu xanh lam đậm rất trang trọng, ngồi ở hàng ghế đầu tiên dành cho người nhà.

Phương Tiểu Ngư nhất quyết xin nghỉ phép để đi cùng tôi, cô ấy ngồi cạnh tôi, căng thẳng đến mức lòng bàn tay toàn mồ hôi.

Trên bục, thủ trưởng đứng trước đài trao huân chương, đọc một đoạn văn.

“Đồng chí Lục Chinh, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thử nghiệm tính thích ứng trên toàn vùng lãnh thổ của mẫu chiến đấu cơ mới, đã vượt qua điều kiện môi trường khắc nghiệt cùng cực, nhiều lần hoàn thành các khoa mục bay trong điều kiện hiểm nghèo, đóng góp to lớn cho việc trang bị mẫu thiết bị hàng không mới của quân đội ta. Được sự phê chuẩn của cấp trên, quyết định trao tặng cá nhân Huân chương Nhất đẳng công một lần.”

Nhất đẳng công.

Cả hội trường vang lên tiếng vỗ tay.

Không phải kiểu vỗ tay sáo rỗng xã giao.

Mà là tràng pháo tay dời non lấp biển, dùng hết sức lực, mang theo sự kính trọng tuyệt đối.

Lục Chinh mặc bộ quân phục phẳng phiu, bước lên đài.

Đích thân thủ trưởng cài tấm huân chương lên ngực anh.