Nơi chân trời phía Đông, một vệt sáng vàng rực hắt ra từ đỉnh núi tuyết, giống như một đường viền vàng khảm lên sống núi.
Bình minh ở vùng Tây Tạng hoàn toàn khác với ở đồng bằng.
Nó không nhảy lên từ đường chân trời, mà tràn dần từ đỉnh núi xuống.
Ánh sáng vàng rực đầu tiên chạm vào đỉnh núi tuyết cao nhất, sau đó từng tấc từng tấc trải xuống chân núi, cuối cùng nhuộm vàng toàn bộ cao nguyên.
Năm năm qua, tôi đã ngắm hoàng hôn vô số lần, nhưng rất hiếm khi có cơ hội ngắm bình minh.
Hôm nay thì bắt gặp rồi.
Tôi tựa đầu vào cửa kính, nhìn ánh sáng vàng rực ấy, bỗng nhớ lại khung cảnh lần đầu tiên đặt chân đến Tây Tạng nhiều năm về trước.
Khi đó là kỳ nghỉ hè thời đại học, trường tổ chức đội tình nguyện đi khám bệnh miễn phí ở vùng Ngari.
Xe chạy trên đường đèo quanh co ròng rã hai ngày, lúc vượt qua đèo Tanggula, lần đầu tiên tôi nhìn thấy cờ kinh (cờ phướn lungta).
Những lá cờ ngũ sắc bay phần phật trong gió, như đang chỉ dẫn điều gì.
Thầy giáo dẫn đoàn nói: “Theo quan niệm của người Tây Tạng, gió thổi qua cờ kinh một lần thì tương đương với việc tụng một biến kinh.”
Lúc đó tôi 23 tuổi, đứng trên ngọn đèo cao hơn 5000 mét, nhìn những lá cờ bay, trong lòng trào dâng một sự xúc động kỳ lạ.
Sau này tốt nghiệp, tôi vào làm ở Bệnh viện Nhân dân tỉnh, rồi kết hôn với Cố Ngôn Xuyên.
Cuộc sống sau hôn nhân bình lặng như nước. Anh ta bận rộn với các công trình của anh ta, tôi bận rộn với những ca trực đêm của tôi. Chúng tôi sống chung trong một thành phố, nhưng lại như hai hòn đảo cô độc.
Năm thứ ba, lúc xét duyệt nâng ngạch, khoa yêu cầu mỗi người đăng ký một chương trình hỗ trợ vùng sâu vùng xa.
Tôi đăng ký đi Tây Tạng.
Cái ngày Cố Ngôn Xuyên biết chuyện, anh ta đã đập vỡ mọi thứ có thể đập trong nhà.
Anh ta gào lên: “Cô không muốn sống yên ổn nữa phải không?”
Tôi đáp: “Tôi chỉ muốn làm một vài việc có ý nghĩa.”
Anh ta văng tục: “Ý nghĩa cái chó gì? Chẳng phải là đi chịu khổ chịu tội à?”
Tôi không giải thích thêm.
Có những người, rõ ràng sống chung một thế giới, hít thở chung một bầu không khí với bạn, nhưng lại cách xa vạn thủy thiên sơn.
**6**
Xe chạy ngoằn ngoèo trên đường đèo thêm hơn một tiếng nữa thì tòa nhà màu trắng của Bệnh viện Nhân dân thành phố Lhasa cuối cùng cũng hiện ra trong tầm mắt.
Bác sĩ Thứ Nhân đã đợi sẵn ở cửa, thấy xe dừng, anh lập tức sải bước tới đón.
“Bác sĩ Tô, tình hình của Trác Mã tạm thời ổn định rồi, nhưng phải phẫu thuật càng sớm càng tốt.”
“Đi thôi.”
Tôi theo anh đi xuyên qua sảnh khu khám bệnh, tiến thẳng vào khu nội trú.
Trong thang máy, Thứ Nhân báo cáo tình hình: “Hệ thống máy tim phổi nhân tạo (tuần hoàn ngoài cơ thể) của bệnh viện chúng tôi công suất hơi nhỏ, mà Trác Mã chỉ nặng có 24 kg, ca mổ này rủi ro rất cao.”
“Ngân hàng máu đủ không?”
“Đủ ạ, hôm qua đã điều một đợt từ Trung tâm huyết học tỉnh về rồi.”
Cửa thang máy mở ra, hành lang khoa Ngoại Tim mạch chật cứng người.
Người nhà bệnh nhân thấy tôi mặc áo blouse trắng bước vào thì vội nhường đường.
Bố của Trác Mã là một người đàn ông Tây Tạng điển hình, khuôn mặt đỏ sậm ngăm đen, giữa trán có một nếp nhăn rất sâu. Thấy tôi, anh chắp hai tay lại, bập bẹ nói tiếng Phổ thông: “Menba, cầu xin bác sĩ, cứu lấy Trác Mã.”
Vợ anh đứng phía sau, tay ôm một đứa bé nhỏ hơn, mắt khóc đỏ hoe sưng húp.
“Tôi sẽ cố gắng hết sức.”
Tôi vỗ vai anh rồi bước vào phòng hồi sức tích cực.
Trác Mã đang nằm trên giường bệnh, người cắm đầy dây dợ và miếng dán điện cực. Dưới tấm ga trải giường màu trắng, cơ thể bé nhỏ gần như không thấy nhịp thở phập phồng. Môi cô bé tím tái, móng tay cũng xanh lè.
Biểu hiện thiếu oxy điển hình.
Nhưng đôi mắt của cô bé…
Cô bé nhìn thấy tôi, đôi mắt to đen láy thế mà lại hiện lên ý cười.

