Đông người quá bất tiện.

Như thể phải xếp chồng vô vàn lý do lên nhau, thì đối phương mới “đủ tư cách” để chấp nhận sự “không sẵn lòng” của tôi.

Sau này tôi mới nhận ra, thực chất “không muốn” đã là một thái độ quá rõ ràng rồi.

Đương nhiên, họ hàng với nhau không thể lúc nào cũng chỉ khư khư nghĩ cho mình. Ai cũng có lúc khó khăn, giúp được gì tôi vẫn sẽ giúp.

Nhưng giúp đỡ và hy sinh là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

Nhất là khi người ta lười gánh vác phiền phức của chính mình, rồi quay sang đùn đẩy nó cho bạn bằng điệp khúc “chúng ta là người một nhà”. Khi đó, ba chữ “người một nhà” đã hoàn toàn biến chất.

Ngày trước đám cưới, mẹ tôi sang giúp tôi dọn dẹp đồ đạc.

Bà bước vào cửa, thay dép đi trong nhà ở sảnh.

Đây là lần đầu tiên bà không tự ý bấm mật khẩu. Bà bấm chuông cửa.

Lúc mở cửa tôi còn sững lại một giây: “Sao mẹ không tự vào?”

Bà đặt túi thức ăn xuống: “Con chẳng bảo rồi sao, đây là nhà của hai đứa.”

Giọng bà hơi gượng gạo. Như thể chưa quen nói những lời như vậy.

Tôi không chọc thủng lớp màng ấy, chỉ đón lấy túi đồ trong tay bà: “Mẹ mua gì thế?”

“Sườn xào chua ngọt con thích ăn đấy.”

Bà đi được hai bước, lại đứng khựng lại:

“Ngày mai đông người, mấy đồ quý giá hai đứa nhớ cất kỹ đi nhé.”

“Con biết rồi.”

Bà nhìn thấy chữ Hỷ nhỏ xíu dán trên cửa phòng ngủ chính. Nhìn chằm chằm mất hai giây:

“Cái này được này, bóc ra không để lại keo.”

Tôi chợt nhớ lại lời Châu Hàng nói hôm đám cưới, không nhịn được mà phì cười.

Mẹ hỏi: “Con cười cái gì?”

“Không có gì đâu mẹ.”

Bà cũng không hỏi gặng thêm.

Tối hôm đó tiễn mẹ ra về, tôi tiễn ra tận cửa.

Bà đi giày xong, đột nhiên quay đầu nhìn vào trong nhà một lượt.

“Nhà cửa hai đứa sắp xếp tươm tất đấy.”

Tôi đáp: “Vâng.”

“Sau này ráng mà bảo ban nhau sống cho tốt.”

“Con biết rồi.”

Bà bước ra ngoài. Ngay lúc cửa thang máy sắp đóng lại, bà ném lại một câu:

“Mật khẩu cửa không cần báo cho mẹ đâu.”

Tôi sững người.

Thang máy đã đi xuống.

Tôi đứng ngẩn ngơ trước cửa, tay vẫn vịn lên tay nắm.

Cuối cùng chẳng nói gì, chỉ nhẹ nhàng khép cánh cửa lại.

Sau đám cưới của tôi, gia đình hai bên vẫn qua lại bình thường.

Đến dịp Tết nhất gặp mặt, vẫn ngồi chung một mâm cơm.

Mợ tôi thi thoảng vẫn mỉa mai tôi là “có chủ kiến lớn”.

Tôi nghe xong cũng chẳng buồn giải thích.

Châu Hàng sau đó đã dọn về nhà mới của cậu ta.

Có một lần ăn cỗ gia đình, cậu ta khoe mới sắm cái máy chiếu khá đắt tiền, dặn ai có con nhỏ đến chơi thì nhất định đừng để chúng đụng vào

Có người trên bàn cười trêu: “Có cái máy chiếu thôi mà làm gì nâng như nâng trứng thế?”

Châu Hàng bật lại ngay: “Đồ của mình thì mình phải xót chứ.”

Nói xong, cậu ta chợt nhớ ra điều gì, vội liếc nhìn tôi một cái.

Tất cả chúng tôi, không một ai nhắc lại chuyện căn nhà tân hôn năm ấy.

Tôi cúi đầu gắp thức ăn. Suýt chút nữa thì bật cười.

Đồ của mình thì gọi là cuộc sống, đồ của người khác thì gọi là “đằng nào chả để không”. Tiền của mình là mồ hôi công sức, tiền của người khác là “cho vay mượn tạm”. Sự bất tiện của mình là bất tiện thật, đến lượt người khác thì lại hóa thành “có cái chuyện cỏn con”.

Nếu ngày hôm đó, để cho bố mẹ tôi được tiếng thơm làm người tốt, tôi ngậm ngùi giao chìa khóa ra, 20 ngày sau nhà cửa có lẽ vẫn vẹn nguyên, đám cưới có lẽ vẫn diễn ra suôn sẻ.

Nhưng kể từ đó về sau, ít nhất là trong gia đình này, mọi người sẽ ngầm hiểu một luật lệ: Chỉ cần họ hàng nói đến mức độ nào đó, sự cự tuyệt của tôi nghiễm nhiên có thể bị phớt lờ.

Bởi vì thứ thực sự làm bố mẹ tôi cứng họng, chưa bao giờ là việc giọng tôi lớn đến đâu.

Mà chỉ đơn giản là tôi đã đặt lại bài toán lựa chọn đó vào chính tay họ.