Anh đặt giấy vẽ xuống cửa, lùi lại hai bước, ngồi xuống bậc thềm.
Gió mùa đông thổi qua khoảng sân, cành lá của cây mộc lan đập xào xạc vào tường.
Anh cứ ngồi như thế, ngồi cho đến khi trời tối mịt.
Tiểu Mãn nằm sấp bên cửa sổ nhìn lén mấy lần, miệng thì nói không thèm nhìn, nhưng ngón tay lại vẽ những vòng tròn trên mặt kính.
Tôi đi tới: “Có muốn cho chú ấy vào không?”
Tiểu Mãn lắc đầu: “Con chưa tha thứ đâu.”
“Có thể không tha thứ mà.”
Thằng bé ngẩng đầu nhìn tôi: “Mẹ cũng làm sai đúng không?”
Tôi ngồi xổm xuống: “Mẹ sai rồi.”
Thằng bé nhíu đôi mày nhỏ xíu: “Vậy sao mẹ không nói cho con biết?”
Ngực tôi đau thắt: “Bởi vì mẹ sợ con buồn, cũng sợ con thích chú ấy rồi, chú ấy lại bỏ đi.”
Tiểu Mãn cúi đầu vò tai con thỏ: “Nhưng bây giờ con còn buồn hơn.”
Mắt tôi cay xè.
“Mẹ xin lỗi.”
Tiểu Mãn nhìn tôi rất lâu, vươn bàn tay nhỏ bé sờ lên khóe mắt tôi.
“Mẹ đừng khóc, con vẫn yêu mẹ mà.”
Câu nói này xé nát tim can tôi.
Tôi ôm chặt lấy con, lần này thằng bé không né tránh nữa.
Mười giờ tối, cuối cùng Tiểu Mãn cũng mở cửa, ôm một bức tranh mới vẽ bước ra sân.
Kỷ Nghiên Chu lập tức đứng bật dậy, đầu gối vì ngồi lâu mà hơi khuỵu xuống.
Tiểu Mãn đưa bức tranh qua.
Trên tranh chỉ có hai người.
Một là Tiểu Mãn, một là tôi.
Kỷ Nghiên Chu nhìn vào khoảng trống trên tranh, không nói gì.
Tiểu Mãn nói: “Chỗ này vốn dĩ có chú, con xóa đi rồi.”
Đầu ngón tay Kỷ Nghiên Chu khẽ run: “Ừ.”
“Sau này chú phải biểu hiện cho tốt thì mới được vẽ trở lại.”
Kỷ Nghiên Chu trầm giọng đáp: “Được.”
Tiểu Mãn lại nói: “Còn nữa, hai chữ ‘gọi ba’ đắt lắm, con phải suy nghĩ đã rồi mới cho chú.”
Viền mắt Kỷ Nghiên Chu đỏ ửng: “Được.”
Tiểu Mãn quay người chạy về, chui tọt vào lòng tôi, nhỏ giọng hỏi: “Mẹ ơi, con nói đúng không ạ?”
“Đúng.”
Thằng bé thở phào một hơi: “Vậy con giỏi quá đi.”
Tôi hôn lên tóc con: “Giỏi xuất sắc luôn.”
Những ngày sau đó, Kỷ Nghiên Chu bắt đầu vụng về theo đuổi tiến độ làm cha.
Anh mang bữa sáng đến, không dám gõ cửa, chỉ đặt ở ngoài.
Có lần Tiểu Mãn cố tình gắp bỏ hết cà rốt ra ngoài, ngày hôm sau trong hộp cơm không còn cà rốt nữa, thay vào đó là bí đỏ cắt thành hình những ngôi sao nhỏ.
Tiểu Mãn lại chê hình ngôi sao trẻ con quá, ngày thứ ba bí đỏ được cắt thành những khối vuông nhỏ.
Tôi nhìn mà vừa buồn cười, vừa không dám cười.
Kỷ Nghiên Chu cũng bắt đầu theo đuổi tôi.
Cách thức còn vụng về hơn.
Anh tặng hoa, bố tôi sai người ném ra ngoài.
Anh tặng dây chuyền, tôi bảo bố sai người ném ra ngoài.
Anh tặng một cuốn sách ảnh kiến trúc bản hiếm mà hồi đó tôi rất muốn mua, tôi cầm lên xem nửa tiếng đồng hồ, cuối cùng vẫn sai người đem trả ra ngoài cửa.
Tiểu Mãn đứng cạnh thở dài: “Mẹ ơi, mẹ cũng khó dỗ ghê.”
Tôi véo má con: “Con thì biết cái gì.”
“Con biết chứ.” Thằng bé ôm con thỏ, vẻ mặt vô cùng nghiêm túc, “Lần nào mẹ nhìn thấy chú ấy, tay mẹ cũng nắm chặt lắm.”
Tôi cúi đầu nhìn tay mình.
Quả nhiên đang nắm chặt mép sách.
Kỷ Nghiên Chu thực sự bước được vào cửa là vì tôi bị sốt.
Hôm đó tôi từ công ty về, bụng đói meo, đầu nặng trĩu, vừa bước vào cửa đã bám vào tủ giày trượt ngã xuống.
Tiểu Mãn sợ hãi hét gọi ông ngoại.
Bố tôi vốn huyết áp cao, cả nhà cuống cuồng lên.
Lúc Kỷ Nghiên Chu xông vào, áo khoác còn chưa kịp mặc, trên người mang theo hơi lạnh từ bên ngoài.
Anh bế thốc tôi lên, tôi định đẩy ra, nhưng đưa tay lên nửa chừng lại không còn chút sức lực nào, rơi bộp xuống vai anh.
“Đừng chạm vào tôi.”
“Hứa Doanh Chi, đến bệnh viện đã.”
“Tôi không đi.”
“Tiểu Mãn đang khóc kìa.”
Bốn chữ này có tác dụng hơn bất cứ thứ gì.
Tôi nghiêng đầu nhìn sang, Tiểu Mãn đang đứng ở đầu cầu thang, nước mắt tèm lem treo trên cằm.
Tôi nhắm mắt lại: “Đi thôi.”

