Kỷ Nghiên Chu cúi đầu nhìn bức tranh, nửa ngày không nói lời nào.

Tôi ôm Tiểu Mãn trở lại phòng, lúc ra ngoài lần nữa, ngoài hành lang chỉ còn lại bức tranh nằm gọn trong lòng bàn tay anh.

Anh ngẩng đầu hỏi tôi: “Em nói với thằng bé về anh như thế sao?”

Tôi tựa lưng vào cửa: “Chứ sao nữa? Bảo ba nó là kẻ thù không đội trời chung của mẹ, bảo hai người có một đêm hoang đường, bảo mẹ hiểu lầm ba có người trong mộng nên vỗ mông bỏ chạy à?”

Môi Kỷ Nghiên Chu mím lại thành một đường thẳng.

“Bốn năm qua anh chưa bao giờ dừng lại.”

Anh lấy từ trong túi áo ra một chiếc kẹp tóc.

Là vầng trăng nhỏ bằng bạc, viền đã mòn đến sẫm màu.

Hơi thở của tôi ngừng trệ.

Đó là đồ của tôi, rơi trong phòng anh vào đêm bốn năm trước.

“Anh từng nghĩ người anh tìm chỉ là một bóng hình mơ hồ.”

Anh nhìn chiếc kẹp tóc: “Về sau càng tìm, lại càng giống em. Anh tra được chuyến bay ngày em ra nước ngoài, tra được địa chỉ của em ở Vancouver, sau đó lại khóa toàn bộ tài liệu vào ngăn kéo.”

Tôi chằm chằm nhìn anh: “Anh tra được rồi?”

“Tra được một nửa.”

“Vậy sao anh không đến?”

Anh siết chặt chiếc kẹp tóc, đốt ngón tay trắng bệch chói mắt.

“Bởi vì anh sợ người đó thực sự là em.”

Anh nói: “Anh sợ khi anh đến, em sẽ đóng cửa lại, đến lúc đó ngay cả cái cớ để lừa dối bản thân anh cũng chẳng còn.”

***

**【Chương 4】**

Sau đêm đó, Kỷ Nghiên Chu không ép tôi nữa.

Lúc anh ra về, bố tôi cản anh lại ở dưới lầu, gậy batoong nện xuống sàn gỗ làm tách trà rung lên bần bật.

“Tránh xa con gái và cháu ngoại tôi ra.”

Kỷ Nghiên Chu đứng dưới mưa, không che ô.

“Chú Hứa, cháu không làm được.”

Bố tôi tức quá hóa cười: “Năm xưa cậu ức hiếp nó, bây giờ còn dám bảo không làm được?”

“Cháu sẽ bù đắp.”

“Cậu lấy cái gì ra bù đắp?”

Kỷ Nghiên Chu ngước nhìn lên lầu hai, tôi đang đứng sau rèm cửa, những ngón tay siết chặt lớp vải.

“Bằng cả phần đời còn lại của cháu.”

Tôi kéo kín rèm cửa lại.

*Bớt diễn đi.*

Sáng sớm hôm sau, trước cửa nhà họ Hứa xuất hiện thêm một chiếc xe đen.

Tiểu Mãn nhoài người bên bàn ăn gặm bánh mì nướng, miệng dính đầy mứt hoa quả. Vừa nhìn thấy chiếc xe, mắt thằng bé sáng rỡ lên: “Mẹ ơi, chú hàng xóm lại đến kìa.”

Bố tôi đập tờ báo xuống bàn: “Cậu ta mà dám bước vào tao đánh gãy chân.”

Năm phút sau, người giúp việc bước vào: “Lão gia, Kỷ tổng gửi bữa sáng đến, nói là hôm qua tiểu thiếu gia ho vài tiếng nên dặn ăn ít đồ ngọt lại.”

Bố tôi nhìn hộp đồ ăn ba tầng trên bàn, mặt đen như vắt ra mực.

Tiểu Mãn giơ tay: “Ông ngoại ơi, con có được ăn không?”

“Không được.”

“Sao lại thế ạ?”

Bố tôi nghẹn một hồi lâu: “Vì cậu ta là người xấu.”

Tiểu Mãn nghiêm túc suy nghĩ: “Nhưng người xấu sẽ không nhớ là con bị ho đâu.”

Bố tôi bị cháu ngoại ruột đâm cho một nhát, ôm ngực dựa vào lưng ghế.

Tôi không nhịn được bật cười một tiếng.

Bố trợn mắt lườm tôi: “Còn cười à?”

Tôi lập tức cúi đầu húp cháo.

Món cháo này thực sự nấu rất khéo, hạt gạo nhừ tơi, thịt gà xé sợi tơi xốp, vị gừng ép xuống vừa đủ. Tiểu Mãn ăn hết nửa bát, cái bụng tròn xoe, hài lòng xoa xoa bụng.

Sáng hôm đó tôi đến công ty họp.

Bốn năm không về, một đám người ở Hứa thị đang chực chờ xem trò cười của tôi.

Đặc biệt là con gái của chú hai – Hứa Nhân. Cô ta mặc một bộ váy vest trắng, chặn tôi ngay cửa phòng họp.

“Chị họ, nghe nói lần này chị về là mang con về nhận tổ tông à? Bố đứa bé đâu rồi, chẳng lẽ đến cái tên cũng không dám nhắc tới?”

Tôi đưa tập tài liệu cho trợ lý, đưa tay chỉnh lại cổ áo cho cô ta.

Hứa Nhân cứng đờ người.

Tôi mỉm cười nói: “Lớp nền của em bị mốc rãnh râu rồng rồi kìa, đừng đứng gần chị quá, sợ chị nhìn rõ.”

Nụ cười trên mặt cô ta nứt toác.