Bố tôi hỏi vay người chú ruột 8.000 tệ tiền học phí nhưng bị từ chối phũ phàng, chú út trong đêm bán nhà để nuôi tôi học Đại học. 15 năm sau, tôi về làng xây nhà mới, tặng xe xịn cho chú út, gia đình nhà người chú kia tròn mắt chết sững.
“Đúng đấy, anh họ.” Trần Hạo Vũ, đứa em họ kém tôi hai tuổi, mắt vẫn dán vào chiếc máy chơi game đời mới, xen mồm vào: “Học Thanh Hoa ra chắc gì đã kiếm được nhiều tiền. Bố em bảo rồi, thời buổi này kiếm tiền là phải dựa vào quan hệ và mánh khóe. Anh không có mấy thứ đó, học cho lắm cũng chỉ mang kiếp làm thuê thôi.”
Mẹ tôi mất sớm, bố tôi là công nhân bình thường ở xưởng cơ khí nông nghiệp trên trấn, xưởng làm ăn lúc được lúc mất nên gia cảnh luôn thanh bần. Tôi dựa vào học bổng và đồng lương còm cõi của bố để học hết cấp ba. Những tưởng thi đỗ Đại học sẽ giúp bố thở phào nhẹ nhõm, ngờ đâu rào cản đầu tiên lại cao đến thế.
Thế là có cảnh tượng ngày hôm nay. Chúng tôi mang theo hai nghìn tệ tiền tiết kiệm chắt bóp của gia đình và mấy trăm tệ mặt dày đi vay mượn khắp nơi, lặn lội lên nhà chú Quốc trên huyện, hy vọng chú nể tình máu mủ mà giang tay giúp đỡ, bù đắp khoản thiếu hụt tám nghìn tệ tiền học phí.
Ngờ đâu, chờ đợi chúng tôi là những lời thoái thác kín kẽ không lọt một giọt nước, cùng những “lời khuyên” nghe qua thì quan tâm nhưng thực chất lại vô cùng cay nghiệt.
Mặt bố tôi đỏ bừng, trên trán rịn ra những giọt mồ hôi li ti. Ông muốn nói gì đó, đôi môi run rẩy vài cái nhưng không thốt nên lời. Tôi nhìn mái tóc điểm bạc của bố, nhìn chiếc áo sơ mi cũ sờn rách cả cổ của ông, trong lòng như bị thứ gì đó bóp nghẹt, vừa xót xa vừa đau đớn.
“Chú, số tiền này, coi như cháu vay.” Tôi bước lên một bước, đứng cạnh bố, cố gắng giữ cho lưng mình thật thẳng. “Cháu sẽ viết giấy vay nợ, tính lãi suất theo ngân hàng. Đợi cháu tốt nghiệp đi làm, cả gốc lẫn lãi, cháu nhất định sẽ trả đủ!”
Giọng tôi hơi nghẹn lại, nhưng tôi cố giữ cho nó thật rõ ràng.
Chú Quốc nhướng mắt nhìn tôi một cái, mỉm cười, nụ cười chẳng có chút hơi ấm nào.
“Tiểu Mặc à, có chí khí là tốt. Nhưng chuyện vay mượn ấy mà… anh em ruột cũng phải tính toán rành mạch. Không phải chú không tin cháu, mà thời buổi này biến số lớn lắm. Cháu xem bố cháu kìa, nuôi cháu ăn học đến cấp ba đã không dễ dàng gì, sau này còn phải lo dưỡng lão. Cái gánh này của cháu, nặng quá.”
Chú đặt tách trà xuống, ngả người ra sau lưng ghế, bày ra dáng vẻ chuẩn bị tiễn khách.
“Theo chú thấy, cháu nghe lời thím cháu đi, cân nhắc trường Sư phạm. Cùng lắm thì đi theo chú làm vật liệu xây dựng, học lấy cái nghề cho sớm, sớm kiếm tiền nuôi gia đình, đó mới là con đường đúng đắn. Thanh Hoa… xa vời quá, không thực tế đâu.”
Không thực tế.
Ba chữ nhẹ bẫng ấy đã phủ nhận hoàn toàn mười hai năm đèn sách khổ cực của tôi, phủ nhận nửa đời người ngậm đắng nuốt cay của bố, và cũng phủ nhận luôn cả tia sáng hy vọng mong manh mà gia đình tôi vừa mới nhìn thấy.
Bố tôi đột ngột ngẩng đầu lên, hốc mắt đỏ hoe. Ông nhìn người em trai ruột của mình, ánh mắt chứa chan sự thất vọng và đau đớn đến khó tin. Ông hé miệng, nhưng cuối cùng chẳng nói gì, chỉ chán nản và chậm chạp khom cái lưng vốn đã còng xuống.
Tôi biết, chút hy vọng cuối cùng trong lòng bố, vỡ vụn rồi.
“Bố, chúng ta về thôi.” Tôi đỡ lấy cánh tay đang hơi run rẩy của bố. Tay ông lạnh toát.
Bố như một con rối gỗ, để tôi dìu đứng lên. Ông ngoái lại nhìn người em trai và em dâu đang ăn vận bóng bẩy của mình lần cuối, trong cổ họng phát ra một âm thanh ứ nghẹn, rồi quay lưng, từng bước đi ra cửa.
Phía sau, vang lên giọng nói cố tình cao giọng của thím Tú Lan: “Kiến Quốc, tối nay đừng quên bữa tiệc với Cục trưởng Vương đấy nhé, bàn về vụ lô thép…”
Cánh cửa đóng lại sau lưng chúng tôi, nhốt lại sự đầm ấm hoặc chỉ là họ tự huyễn và hơi lạnh của điều hòa ở bên trong. Ngoài cửa, ánh hoàng hôn tháng Bảy nóng như thiêu như đốt hắt xuống mặt xi măng của khu tập thể cũ kỹ, cũng thiêu đốt trái tim lạnh lẽo của hai bố con tôi.
Trên chuyến xe khách đường dài về nhà, bố cứ nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ, phong cảnh trôi tuột đi, ông không nói một lời. Tôi nắm lấy tay ông, cảm nhận được sự run rẩy nhè nhẹ không thể kiềm chế trong bàn tay thô ráp ấy.
“Bố, không sao đâu.” Tôi nghe thấy giọng nói khô khốc của chính mình vang lên. “Con không học Thanh Hoa nữa. Con ôn thi lại một năm, năm sau thi vào trường nào miễn học phí.”
“Nói bậy!” Bố đột ngột quay đầu lại, mắt càng đỏ hơn, nhưng trong ánh mắt lại bùng lên một tia dữ dội mà tôi chưa từng thấy. “Thi đỗ rồi dựa vào cái gì mà không học? Con trai bố đỗ là đỗ Thanh Hoa! Trường đại học tốt nhất toàn quốc! Dù có phải đi bán máu, bố cũng phải nuôi con đi học!”
Ông nói chém đinh chặt sắt, nhưng tôi nhìn thấy tận sâu trong đáy mắt ông là sự hoang mang và bất lực không đáy. Bán máu? Bán máu thì được mấy đồng.
Về đến nhà, trời đã tối mịt. Căn nhà lụp xụp có hai gian nằm ở rìa thị trấn của chúng tôi dưới ánh đèn tù mù càng thêm tồi tàn. Bố cúi gầm mặt hút thuốc, hết điếu này đến điếu khác. Tôi lấy giấy báo trúng tuyển ra, nhìn đi nhìn lại, con dấu đỏ chót lúc này trông thật chói mắt.
Hàng xóm đều biết tôi đỗ Thanh Hoa, ban ngày vẫn có người lần lượt đến chúc mừng. Nhưng bây giờ, không khí vui mừng dường như đã bị lỗ hổng tám nghìn tệ nuốt chửng không còn một mảnh, chỉ còn lại sự im lặng nặng nề, nghẹt thở.
Đêm đã khuya, bố dụi tắt điếu thuốc cuối cùng, giọng khàn đặc: “Ngủ đi, ngày mai… bố sẽ nghĩ cách.”
Ông có thể nghĩ ra cách gì đây? Tôi thừa biết. Trong họ hàng, chú Quốc là người có khả năng cho mượn tiền nhất rồi. Những người khác, điều kiện còn không bằng nhà tôi.
Tôi nằm trên giường, mở mắt nhìn trần nhà dán đầy giấy báo cũ, trong lòng cuộn sóng. Chẳng lẽ thực sự chỉ có thể bỏ cuộc sao? Câu nói “Con nhà nghèo khó sinh quý tử” cứ lởn vởn trong đầu tôi như một lời nguyền. Tôi không can tâm, thực sự không can tâm.
Ngay lúc tâm trí tôi đang rối bời, gần như tuyệt vọng, ngoài sân bỗng vang lên tiếng phanh xe máy chói tai, ngay sau đó là tiếng đập cửa “rầm rầm rầm”, vang vọng giữa đêm khuya thanh vắng.
“Anh! Tiểu Mặc! Mở cửa! Em đây!”
Một giọng nói quen thuộc mang theo sự gấp gáp vang lên ngoài cửa.
Là chú út của tôi, Trần Kiến Dân.
Bố sửng sốt một chút rồi vội vàng trở dậy đi mở cửa. Tôi cũng lồm cồm bò dậy theo.
Cửa vừa mở, chú út Trần Kiến Dân xông vào, mang theo hơi thở của gió đêm và bụi bặm. Chú nhỏ hơn bố năm tuổi, quanh năm đi làm ở các công trường xây dựng ngoại tỉnh, da ngăm đen thô ráp, nhưng đôi mắt rất sáng. Trong tay chú ôm khư khư một chiếc túi vải dù cũ giặt đến bạc màu, căng phồng.
“Kiến Dân? Sao giờ này chú lại về? Công trường cho nghỉ à?” Bố ngạc nhiên hỏi, vội vã nhường đường cho chú út vào nhà.
Chú út không trả lời, chú nhìn tôi trước, toét miệng cười để lộ hàm răng hơi ố vàng vì khói thuốc: “Tiểu Mặc, giấy báo đâu? Cho chú xem nào!”
Tôi vội vàng lấy giấy báo trúng tuyển ra. Chú út chùi tay thật mạnh vào quần áo, sau đó mới cẩn thận nhận lấy. Dưới ánh đèn mờ ảo, chú nheo mắt nhìn đi nhìn lại, ngón tay khẽ vuốt ve mấy chữ “Đại học Thanh Hoa”.

