Ông ta bị đè nằm sấp trên sàn, vẫn còn mắng nhiếc chị Lý: “Mày dám bán đứng chị tao! Mày tưởng Đường Hòa có thể bảo vệ mày sao?”
Chị Lý vừa khóc vừa nói: “Tôi không muốn phải ngồi tù.”
Lâm Quốc Cường cười khẩy: “Bây giờ mày có giao nộp ra cũng muộn rồi. Đăng ký gốc của con trai Đường Hòa đã bị ghi đè bằng đơn xin hủy bỏ. Không có cái mã xác thực cuối cùng, cả đời này cô ta đừng hòng làm lại được hộ khẩu một cách êm xuôi.”
Cảnh sát lập tức hỏi: “Mã xác thực ở đâu?”
Lâm Quốc Cường ngậm chặt miệng, không nói thêm nửa lời.
Tôi lật mở cuốn sổ hộ khẩu đó ra.
Trang đầu tiên là Hạ Tuấn. Trang thứ hai là tên tôi. Trang thứ ba ghi tên Hạ An An.
Nhưng ngày tháng năm sinh lại là của mười sáu năm trước.
Bên trong kẹp một tờ giấy được gấp lại. Mở ra, tôi thấy một dòng chữ in sẵn:
*”Xác nhận cuối cùng về việc đính chính nhân thân của trẻ sơ sinh Hạ An An, cần có đơn xin chung của hai người giám hộ.”*
Chỗ chữ ký người làm đơn, đã có tên của Hạ Tuấn.
Khoảng trống phía trên chỗ ký tên còn lại, điền tên của tôi.
Ở dưới cùng của tờ giấy, có một dãy số viết tay.
Nhìn thấy dãy số đó, sắc mặt chị Lý đột ngột biến đổi.
“Đây không phải là mã xác thực. Đây là mã số của tủ lưu trữ hồ sơ bệnh án. Bản gốc thật sự vẫn còn nằm trong phòng lưu trữ dưới tầng hầm của bệnh viện.”
**16**
Ngay khi chị Lý thốt ra mấy chữ “phòng lưu trữ dưới tầng hầm”, mặt Lâm Quốc Cường hoàn toàn tối sầm. Ông ta bị cảnh sát ghì chặt vai, vẫn cố chống chế:
“Cái chỗ đó bỏ hoang lâu rồi, mấy người có xuống cũng chẳng tìm được gì đâu.”
Chị Lý co rúm ở góc tường, tiếng khóc nghẹn ngào: “Tìm được. Tủ lưu trữ phải có cả chìa khóa của viện trưởng và nhân viên lưu trữ mới mở được, người khác không mở nổi đâu. Năm xưa tôi chỉ lấy đi giấy báo nhận, hồ sơ gốc không thuộc quyền quản lý của tôi.”
Tôi nhặt chiếc túi giấy xi măng lên, vết xước rớm máu trên mu bàn tay vẫn còn rát.
Nhưng tôi chẳng màng đến sự đau đớn đó. Tôi chỉ muốn biết, con trai tôi rốt cuộc đã bị bọn họ giấu ở đâu.
Cảnh sát bảo người giải Lâm Quốc Cường xuống lầu, rồi yêu cầu chị Lý dẫn đường.
Phía sau tòa nhà cũ có một cánh cửa sắt. Trên cửa treo tấm biển “Khu vực bỏ hoang của bệnh viện”, ổ khóa bám đầy bụi.
Chị Lý rút ra một chùm chìa khóa từ trong lớp áo đồng phục, tay run rẩy thử đến lần thứ ba mới mở được. Cửa vừa mở, một luồng không khí ẩm mốc, lạnh lẽo phả vào mặt.
Cầu thang dẫn xuống dưới, ánh đèn báo sự cố trên tường hắt ra thứ ánh sáng xanh lờ mờ. Đứng ở lối vào, lưng tôi toát lên một tầng ớn lạnh.
Cảnh sát nhìn tôi: “Cô Đường, cô có thể đợi ở trên này.”
Tôi lắc đầu: “Tôi phải tận mắt nhìn thấy.”
Bởi vì tôi không còn dám giao phó bất kỳ một mắt xích quan trọng nào cho người khác kể lại.
Tôi đi theo họ xuống lầu. Đế giày giẫm lên vũng nước đọng, tiếng vang dội lại trong tầng hầm trống trải.
Đi đến cuối đường, một dãy tủ sắt hiện ra. Trên mỗi chiếc tủ đều có đánh số.
Chị Lý cầm tờ giấy, nhìn theo dãy số viết tay mà đọc: “Khu B, dãy 7, tủ số 13.”
Chúng tôi men theo số thứ tự tìm đến. Ngoài cửa tủ số 13 có dán một tờ niêm phong ố vàng. Mép niêm phong bị bong một góc, giống như đã có người chạm vào.
Cảnh sát ngồi xổm xuống xem xét, nét mặt đanh lại: “Niêm phong có dấu vết bị dán lại.”
Chân chị Lý nhũn ra: “Tôi chưa từng đụng vào. Tôi thật sự không dám đụng vào chỗ này.”
Cảnh sát không thèm để ý bà ta, sau khi chụp ảnh lấy bằng chứng, bèn gọi nhân viên lưu trữ đến mở tủ.
Trong vài phút chờ đợi, điện thoại của tôi liên tục rung lên.
Là Hạ Tuấn gọi. Tôi không bắt máy. Rất nhanh, anh ta gửi đến một tin nhắn.
*”Đường Hòa, mẹ anh vừa đau tim, đã được đưa vào phòng cấp cứu rồi.”*
Tôi nhìn dòng chữ đó, thậm chí ngón tay cũng không thèm nhúc nhích.

