“Biết chứ,” Khương Nhạn Trì thẳng thắn trả lời, “Đối mặt với một quán trà thiếu hụt 300 ngàn tệ cứu nguy, đối mặt với một phi vụ làm ăn có thể sập tiệm bất cứ lúc nào, đối mặt với núi nợ nần và một cái hố sâu chưa biết lấp bằng cách nào. Và, phải đối mặt với chị.”

“Đối mặt với tôi thì sao?”

“Đối mặt với một người thông minh hơn tôi, bản lĩnh hơn tôi, hiểu rõ mình muốn gì hơn tôi,” giọng Khương Nhạn Trì rốt cuộc cũng có phần run rẩy, “Đối mặt với một người khiến tôi nhận ra, ba chục năm qua của mình coi như vứt xó.”

Gian bếp tĩnh lặng đến ngạt thở. Chỉ còn tiếng nồi súp sùng sục sôi trên bếp, hơi nước bốc lên qua khe nắp nồi, dưới ánh đèn vàng vọt hóa thành những cuộn sương mù mờ ảo, nhòe đi khoảng không khí giữa hai người.

Thẩm Lệnh Nghi rảo bước, từng bước, từng bước tiến lại gần Khương Nhạn Trì, đứng sững trước mặt cô. Cô cao hơn Khương Nhạn Trì nửa cái đầu, khi cúi xuống nhìn, cô trông thấy rõ đỉnh đầu cô ấy có một xoáy tóc nhỏ xíu, hệt như một bông bồ công anh bị gió tản mát.

“Khương Nhạn Trì,” Thẩm Lệnh Nghi thì thầm, “Cô nghĩ tôi hiểu rõ mình muốn gì sao?”

Khương Nhạn Trì ngẩng đầu lên, nhìn chằm chằm vào đôi mắt cô. Đôi mắt sâu hun hút, luôn như phủ một lớp sương sớm ấy, giờ đây bỗng trong vắt đến tận đáy, trong như mặt hồ không gợn sóng.

“Chị rất hiểu những gì mình không muốn,” Khương Nhạn Trì từ tốn đáp, “Nhưng thứ chị thực sự muốn, chị vẫn chưa mường tượng ra đâu.”

Thẩm Lệnh Nghi bật cười. Không phải nụ cười chuẩn mực, kiểu cách, cũng chẳng phải nụ cười sần sùi, chân thật, thậm chí có phần gai góc cô vừa học được ở Phù Sinh Ký. Mà là một nụ cười hoàn toàn mới mẻ, nụ cười mà từ lúc chào đời cô chưa từng có – nụ cười đẫm nước mắt.

Cô khóc.

Không phải cái kiểu bó gối rấm rứt góc đèn đường, không phải thẫn thờ nhìn màn hình máy tính trong văn phòng, mà là khóc òa lên, bất chấp mọi rào cản, trút sạch mọi ưu phiền, ngay trước mặt một người đàn bà mặc áo sơ mi thô xanh nhạt trong một gian bếp chật chội.

Nước mắt giàn giụa trên má, lăn xuống khóe môi, mặn đắng. Cô không lau, không lảng tránh, chẳng cố kìm nén. Cô cứ thế đứng đó, khóc nấc lên, như một sinh linh vừa chào đời, lần đầu hít thở bầu không khí của thế giới này, bị sặc đến mức nước mắt giàn giụa.

Khương Nhạn Trì im lặng, không đưa khăn giấy, cũng chẳng ôm cô vào lòng. Cô chỉ đứng đó, dịu dàng nhìn cô khóc, ánh mắt kiên định, tựa hồ một ngọn đèn biển sừng sững giữa tâm bão.

Chẳng biết bao lâu sau, Thẩm Lệnh Nghi nín khóc. Cô lấy tay áo quệt nước mắt, sụt sịt mũi, nhìn Khương Nhạn Trì, buông một câu mà đời này cô chưa từng thốt ra: “Tôi đói rồi.”

Khương Nhạn Trì ngớ ra một giây, rồi bật cười. Một nụ cười giòn giã, tươi rói, mắt híp lại thành hình vành trăng khuyết, lộ ra chiếc răng thỏ xinh xắn, nụ cười làm bừng sáng cả gian phòng.

“Hoành thánh súp gà,” cô rạng rỡ nói, “Có ngay đây.”

Tối hôm đó, dưới tán hoa quế, mỗi người ôm một bát hoành thánh súp gà. Trên đầu là ánh trăng vằng vặc, dưới chân là ngổn ngang gạch vữa của đội thi công. Phù Sinh Ký lúc này vẫn như một công trường lộn xộn, doanh số thẻ hội viên ngày đầu không đạt kỳ vọng, số tiền 300 ngàn tệ của Lục Thời Nghiên có thể bị rút lại bất kỳ lúc nào, tương lai ngập tràn rủi ro và bất định.

Thế nhưng, Thẩm Lệnh Nghi bưng bát hoành thánh trên tay, cảm thấy đây là bữa ăn ngon nhất trong suốt hai mươi tám năm cuộc đời. Không phải vì hoành thánh – dẫu đúng là rất ngon, súp gà thanh ngọt, nhân thịt căng tròn, Khương Nhạn Trì còn tinh tế bỏ thêm tép khô tự phơi. Mà bởi vì, rốt cuộc cô cũng chẳng phải ăn một mình nữa.