Thiệp mời là do Lâm Vãn gửi tới.
Thiệp đỏ rực, viền mạ vàng, lúc bóc ra có một bức ảnh cưới rơi xuống. Lâm Vãn khoác tay chồng, cả hai cười rất rạng rỡ. Trên thiệp in thời gian và địa điểm, bên dưới dòng in sẵn là một dòng chữ viết tay nhỏ xíu: “Chi Chi, cậu nhất định phải đến nhé.”
Tôi xem qua danh sách khách mời. Có cả Lục Trầm Chu.
Tôi do dự mất hai ngày. Cuối cùng nhắn lại hai chữ: “Sẽ đến.”
Hôm đi ăn cưới, tôi mặc một chiếc váy màu đỏ đô. Không phải cố tình đi mua mới, mà là đợt giảm giá mùa đông năm ngoái tôi tiện tay nhặt vào giỏ, tem nhãn vẫn chưa cắt. Đứng trước gương ngắm nghía một lúc, tóc đã dài ra thêm một chút, sắp chạm đến vai rồi. Đánh chút son, màu đỏ trầm.
Ra khỏi cửa.
Đám cưới tổ chức trên bãi cỏ của một khách sạn. Lúc tôi đến, buổi lễ vừa mới kết thúc, Lâm Vãn đang chụp ảnh với mọi người, thấy tôi liền vẫy tay gọi: “Chi Chi!” Tôi bước tới, cô ấy ôm chầm lấy tôi, lớp kim sa trên váy cưới cọ vào mặt hơi dặm.
“Cậu gầy đi rồi,” cô ấy nói.
“Cậu mập lên rồi,” tôi đáp.
Cô ấy cười, đấm yêu tôi một cái.
Gửi tiền mừng cưới xong, tôi bưng ly sâm banh, tìm một góc khuất đứng. Nắng rất đẹp, trên bãi cỏ kê những dãy ghế màu trắng, trẻ con chạy lăng xăng đùa nghịch. Có người bước tới chào hỏi tôi, là bạn học cũ, nhưng tôi không nhớ nổi tên. Hai bên chào hỏi vài câu xã giao “Dạo này thế nào”. Tôi bảo vẫn ổn. Cô ấy bảo “Cậu đang ở Bắc Kinh hả? Nghe nói lên chức Giám đốc rồi”. Tôi ừ. Cô ấy khen “Giỏi quá”. Tôi nói cảm ơn.
Hết chuyện để nói. Cô ấy quay người đi chỗ khác.
Tôi bưng ly rượu, đưa mắt nhìn đám đông.
Và rồi tôi nhìn thấy anh ta.
Anh ta đứng ở đầu kia bãi cỏ, mặc bộ vest màu xám đậm. Anh ta gầy đi, xương gò má còn nhô cao hơn lần gặp trước. Tóc cắt ngắn, trông có vẻ gọn gàng hơn. Anh ta đang nói chuyện với một người bên cạnh, nói được vài câu thì người kia rời đi.
Chỉ còn một mình anh ta đứng đó, hai tay đút trong túi quần.
Anh ta nhìn về phía tôi.
Chỉ đúng một ánh mắt. Rất lướt. Sau đó anh ta dời mắt đi chỗ khác.
Tôi cũng quay mặt đi.
Đám cưới chính thức bắt đầu, cô dâu chú rể đứng trên sân khấu trao nhẫn. Lâm Vãn khóc, chồng cô ấy cũng khóc, dưới khán đài bao nhiêu người đưa tay lau nước mắt. Tôi không khóc. Không phải vì tôi máu lạnh, mà là mấy năm nay đã khóc đủ rồi, dường như nước mắt cũng cạn sạch.
Nghi thức kết thúc, mọi người bắt đầu ăn tiệc. Tôi được xếp ngồi chung mâm với bạn học, anh ta ngồi cách đó hai bàn. Tôi có thể nhìn thấy góc nghiêng của anh ta, anh ta đang nói chuyện với người bên cạnh, thỉnh thoảng mỉm cười, một nụ cười rất nhạt.
Tôi không nhìn lâu. Cúi xuống ăn thức ăn.
Thịt kho tàu ngấy quá, ăn được hai miếng tôi liền gắp ra. Cá ngon, rất tươi.
Ăn được một nửa, Lâm Vãn thay váy đi chúc rượu. Mặt cô ấy ửng đỏ, có vẻ đã uống kha khá, cô bưng ly rượu đứng trước mặt tôi, ghé sát vào tai tôi thì thầm: “Chi Chi, cậu phải sống thật tốt nhé.”
Tôi nói: “Tớ vẫn luôn sống tốt mà.”
Cô ấy nhìn tôi một cái, vành mắt đỏ hoe. Tôi đẩy cô ấy ra: “Đừng khóc, trôi hết lớp trang điểm bây giờ.”
Cô ấy mỉm cười rồi đi qua bàn khác.
Tiệc tàn, trời đã chập choạng tối.
Tôi ra bãi đậu xe tìm xe của mình, từ xa đã thấy anh ta đứng cạnh chiếc SUV màu đen, đang hút thuốc. Trước kia anh ta đâu có hút thuốc. Ít nhất là không bao giờ hút trước mặt tôi.
Anh ta nhìn thấy tôi rồi.
Tôi đi về phía đó. Không phải muốn bắt chuyện với anh ta, mà là vì xe tôi đậu ở ngay hàng ghế bên cạnh.
Lúc đi ngang qua, tôi hơi khựng lại.
“Em sống tốt không?” Anh ta hỏi.
“Rất tốt.”
“Vậy là tốt rồi.”
Im lặng. Gió thổi mùi khói thuốc thoảng qua.
Tôi kéo cửa xe.
“Tạm biệt, Lục Trầm Chu.”
“Ừm. Tạm biệt.”
Tôi lên xe, nổ máy. Liếc nhìn gương chiếu hậu, anh ta vẫn đứng chôn chân tại chỗ, đốm lửa đầu điếu thuốc lúc sáng lúc tối.
Xe chạy ra ngoài, rẽ một góc cua, không còn nhìn thấy gì nữa.
Đài phát thanh đang mở một bài hát, tôi nghe không rõ là bài gì.
Lái xe dọc đường, lúc dừng đèn đỏ, tôi cúi xuống nhìn điện thoại. Lâm Vãn gửi một tin nhắn: “Chi Chi, hôm nay cậu đẹp lắm.”
Tôi không trả lời.
Đèn xanh bật sáng.
Tôi nhấn ga.
—
— Về sau
Mùa thu năm thứ hai sau khi ly hôn, tôi mua được nhà riêng.
Không phải nhà thuê nữa. Một căn hộ hai phòng ngủ nhỏ nhắn, hướng Nam, có ban công. Tiền trả trước đã vắt kiệt toàn bộ tiền tiết kiệm của tôi, lại còn phải ứng trước một khoản từ thẻ ngân hàng mà mẹ để lại. Ngày làm thủ tục, môi giới nói: “Chúc mừng chị, cuối cùng chị cũng có nhà riêng ở Bắc Kinh rồi.” Tôi nói cảm ơn. Chìa khóa nắm trong tay, lành lạnh, và hơi nặng.
Tôi dành trọn hai ngày cuối tuần để chuyển nhà. Đồ đạc không nhiều, hai cái vali và vài thùng carton, tôi gọi một chiếc xe tải nhỏ chở đồ. Tài xế phụ mang thùng lên nhà, tôi đưa cho anh ấy chai nước, anh ấy xua tay bảo không cần.
Đêm đầu tiên ở nhà mới, tôi ngồi trên sàn. Không phải không có giường, mà là sofa chưa giao tới. Lưng tựa vào tường, hai chân duỗi thẳng, hai mắt cá chân vắt chéo lên nhau. Cửa sổ đối diện không kéo rèm, bên ngoài là ánh đèn từ những tòa nhà khác, từng ô, từng ô vuông vắn, có ô sáng đèn, có ô tối om. Không giống căn nhà ở Thượng Hải — tôi khựng lại một giây. Ban nãy tôi vừa nghĩ là “căn nhà ở Thượng Hải”, chứ không phải “nhà của chúng tôi”. Cụm từ đó không biết đã biến mất khỏi tâm trí tôi từ bao giờ.
Việc đầu tiên sau khi chuyển nhà là đặt chậu trầu bà và chậu sen đá ra ban công. Cây trầu bà đã vươn nhánh rất dài, dây leo rủ từ giá xuống tận sàn. Tôi quấn chúng lại, để chúng tự leo lên giá đỡ. Chậu sen đá đã đẻ ra hai chậu đầy ắp, tôi tách một nhánh sang trồng vào chậu mới, đất mới, chậu cũng mới.
Cuối tuần, tôi đi chợ hoa mua một chậu trầu bà Nam Mỹ, lá rất to, xanh mướt. Ông chủ nói loại này rất dễ nuôi, mỗi tuần tưới nước một lần là được. Tôi gật đầu, vác chậu cây về, đặt trong góc phòng khách. Cả căn phòng khách bỗng chốc bừng bừng sức sống.
Đến tháng thứ ba, tôi nhận nuôi một con mèo.
Bạn tôi đăng tin tìm người nhận nuôi, một bầy mèo cam con, không ai nhận. Tôi bảo phần tôi một con. Ngày đi đón, bầy mèo con chen chúc trong chiếc thùng giấy, vàng ươm như một ổ bánh mì nhỏ. Tôi chọn con im lặng nhất, từ đầu chí cuối không kêu một tiếng, ngoan ngoãn nằm rạp trong lòng bàn tay tôi, mắt nhắm hờ.
Trên đường về, nó ngủ thiếp đi. Một tay tôi cầm vô lăng, một tay đặt nhẹ lên lưng nó, có thể cảm nhận rõ nhịp tim đập, rất nhanh, rất nhẹ nhàng.
Đặt tên. Suy nghĩ nửa ngày, tôi đặt là “Mười Một”. Vì nó đến vào tháng Mười một.
Đêm đầu tiên, Mười Một chui tọt xuống gầm giường không chịu ra. Tôi để nước và hạt ăn cho mèo cạnh giường, tắt đèn đi ngủ. Nửa đêm, tôi nghe thấy tiếng lạch cạch nó bò ra ăn. Sáng hôm sau mở mắt, thấy nó đang ngồi xổm cạnh gối, nghiêng đầu nhìn tôi.
Tôi đưa tay xoa đầu nó. Nó không né.
Bây giờ Mười Một đã béo lên một vòng, bụng tròn xoe. Sáng nào cũng đúng sáu giờ là nó giẫm lên mặt gọi tôi dậy. Tôi không chịu dậy, nó liền liếm mí mắt tôi, cái lưỡi có gai ráp ráp. Tôi đành lồm cồm bò dậy đổ hạt cho nó ăn. Xong xuôi, nó lăn ra ngủ tiếp, còn tôi phải lóc cóc đi làm.
Cuối tuần, tôi bắt đầu đi học vẽ sơn dầu. Đăng ký một lớp học ở khu 798, cứ chiều thứ Bảy là đến lớp. Thầy giáo là một người đàn ông để tóc dài, nói năng nhỏ nhẹ, lúc nhận xét tranh chẳng bao giờ chê xấu thẳng thừng, mà hay nói “Chỗ này có thể cân nhắc lại một chút”.
Bức tranh đầu tiên tôi vẽ là chậu cây trầu bà trên bệ cửa sổ. Vẽ cả một buổi chiều, lá xiên lá xẹo. Thầy giáo nhìn nửa ngày mới thốt lên được một câu: “Tranh của em… khá là có phong cách riêng.”
Tôi tự trào: “Tức là vẽ xấu chứ gì ạ.”
Thầy cười: “Tập vẽ nhiều sẽ tiến bộ thôi.”
Bây giờ tôi đã vẽ được mười mấy bức. Treo hết lên tường phòng khách, nhìn từ bức đầu tiên đến bức mới nhất, thấy rõ sự tiến bộ. Bức mới nhất tôi vẽ là Mười Một, lúc nó đang rúc vào chân tôi ngủ. Hai mắt nhắm tịt, râu ria chĩa ra từng sợi.
Có lần, một bạn học cùng lớp vẽ sơn dầu hỏi tôi: “Cô sống một mình à?”
“Ừ.”
“Không thấy buồn chán sao?”
Tôi ngẫm nghĩ một lúc: “Không chán. Có nhiều việc để làm lắm.”
Đúng là có quá nhiều việc để làm. Đi làm, tan sở, nấu ăn, cho mèo ăn, tưới hoa, vẽ tranh. Cuối tuần đi siêu thị mua thức ăn, cứ thong thả đẩy xe dạo quanh, thấy món gì thích thì mua. Trước kia ở Thượng Hải, đi chợ búa luôn phải đau đầu suy nghĩ xem anh ta thích ăn gì. Giờ thì không cần phải nghĩ nữa. Thích ăn gì thì cứ mua nấy.
Có lần tôi mua một trái sầu riêng, về nhà bóc ra ăn sạch một mình. Mười Một bị mùi sầu riêng hun cho hắt xì hơi liên tục.
Cũng có lần tôi mua một ôm hoa cúc baby thật lớn, cắm vào bình hoa trên bàn ăn. Chiếc bình hoa trước kia cũng là do tôi mua, tôi vứt lại Thượng Hải rồi. Đây là bình hoa tôi mới mua, màu trắng, thấp lùn, trông tròn xoe mập mạp.
Căn nhà từng chút từng chút được lấp đầy. Không phải được lấp đầy bằng “đồ của hai người”. Mà là những món đồ tự tay tôi chọn, tự tay mua, tự tay mang về.
Cây trầu bà Nam Mỹ mọc thêm lá non, màu xanh non mơn mởn, lá còn cuộn tròn lại như một nắm đấm nhỏ xíu. Sáng nào tôi cũng phải ngó qua một cái, xem nó đã nở bung ra được bao nhiêu rồi.
Mười Một thích nằm dài trên chiếc ghế trắng ngoài ban công để tắm nắng. Chiếc ghế đó tôi mang từ nhà cũ qua, ngồi trên đó đọc sách là chuẩn bài. Giờ thì bị con mèo chiếm mất rồi.
Thỉnh thoảng vào những buổi chiều cuối tuần, tôi ngồi bệt dưới sàn ban công, tựa lưng vào tường, đặt cuốn sách lên đùi, Mười Một nằm ngủ say sưa bên cạnh. Ánh nắng xuyên qua cửa sổ chiếu vào người ấm áp, rải một lớp bụi vàng rực rỡ lên những trang sách.
Đọc mãi rồi thiếp đi lúc nào không hay.
Lúc tỉnh dậy mặt trời đã ngả về Tây, ánh nắng chuyển từ màu vàng sang màu cam. Mười Một vẫn đang ngủ, nhịp thở phập phồng đều đặn.
Những buổi chiều như thế này, trước kia chưa bao giờ có. Trước đây cuối tuần nếu không phải ở nhà đợi anh ta, thì cũng là loay hoay dọn dẹp mớ hỗn độn anh ta bày ra. Hoặc cứ lủi thủi một mình, chẳng biết làm gì, chỉ đành cứ ngồi ngây ra đó.
Bây giờ thì khác rồi. Không phải kiểu “có gì đó thay đổi” một cách mông lung. Mà là thực sự khác rồi. Khác một cách rất cụ thể — tôi đã có một căn nhà hướng Nam, một con mèo tên Mười Một, một chậu trầu bà Nam Mỹ, một chiếc ghế tựa màu trắng. Chiều cuối tuần có thể ngủ quên trên ban công mà không phải nơm nớp lo có người về đập cửa vì quên mang chìa khóa.
Dàn trầu bà bên bệ cửa sổ đã leo kín nửa bức tường. Dây leo thả rủ từ giá đỡ xuống, những nhánh dài nhất đã sắp chạm tới mặt sàn, lá xanh bóng mượt mà, màu xanh lục đậm, tầng tầng lớp lớp đan xen vào nhau. Ánh nắng hắt vào, trên lá như được phủ một lớp ánh sáng lấp lánh.
Tôi cầm điện thoại lên, chụp một bức ảnh cành lá non mới nhú.
Sau đó vuốt ngược về bức ảnh tận cùng trong album.
Là tấm ảnh chụp vào ngày đầu tiên tôi mới đặt chân đến Bắc Kinh — chậu trầu bà co ro trong chiếc chậu nhựa màu trắng, lá héo úa, ố vàng, mép lá có mấy chỗ còn khô quắt lại. Mép chậu vương đầy bùn đất, bệ cửa sổ trống trơn, chẳng có lấy một cái giá đỡ.
Tôi ngắm nghía vài giây.
Xóa đi.
—— (HẾT)

