Kết quả, 10 giờ sáng mùng một, tôi bị điện thoại rung làm cho tỉnh giấc. Vừa mở màn hình lên đã thấy tin nhắn Thẩm Trục Dã gửi từ lúc 4 giờ rưỡi sáng.
Không phải công việc, mà là một bức ảnh đen trắng cũ, chụp cảnh công nhân bến tàu thập niên 70 đang ngồi xổm ăn trưa bên bờ sông.
Bên dưới đính kèm một câu: 【Người thứ ba bên trái trong bức ảnh này là ông ngoại tôi. Năm 16 tuổi ông đã đi vác hàng ở bến tàu, vác suốt 20 năm. Trong phương án này của em có nói sẽ làm thiết bị âm thanh tiếng hò dô của công nhân già, em có thể để lại một vị trí để in dấu tay ông ngoại tôi trên bức tường triển lãm được không? Không phải đang trách cứ em, mà là đang cầu xin em.】
Anh dùng hai chữ “cầu xin”. Cái người chưa từng buông tay nhượng bộ trên bàn đàm phán, người luôn chỉ trích chính xác từng tử huyệt lúc sửa bản thảo mà không nể nang ai như Thẩm Trục Dã, lại nhắn tin cho tôi lúc 4 giờ rưỡi sáng, dùng chữ “cầu”.
Tôi ôm điện thoại ngồi ngây ngốc trên giường, một lúc lâu sau mới đáp: 【Bình thường ông ngoại vác hàng bằng tay nào?】
Anh rep lại ngay tắp lự: 【Tay phải. Chỗ hổ khẩu (kẽ ngón tay cái và trỏ) có một vết chai, dày như vỏ cây.】
Tôi nói: 【Được. Em sẽ đúc một dấu tay phải của ông bằng đồng gắn trên tường triển lãm, bên cạnh sẽ khắc tên ông.】
Anh im lặng rất lâu, rồi chỉ đáp lại một chữ: 【Ừ.】
Chỉ một chữ. Nhưng cái chữ “Ừ” đó rơi vào khung chat của tôi, lại nặng tựa ngàn cân, hơn bất cứ lời cảm ơn dài dòng nào.
Tuần thứ tư, anh dẫn tôi đi dự cuộc họp tổng kết quý của Văn hóa Trục Dã.
Nói là họp tổng kết, thực chất là toàn bộ đội ngũ ngồi quanh bàn dài lần lượt rà soát tiến độ dự án. Còn tôi, danh chính ngôn thuận ngồi cạnh anh để thảo luận về vấn đề luồng di chuyển của một điểm nút quan trọng.
Tất cả mọi người trong phòng họp đều đổ dồn mắt nhìn chúng tôi, còn anh thì ghé sát vào màn hình máy tính của tôi, hơi nghiêng người, mặt cách mặt tôi chưa đến 20 phân. Những ngón tay thon dài gõ gõ vào một góc màn hình: “Khoảng không gian chuyển tiếp này em định làm gì?” Hơi thở của anh lướt qua vành tai tôi, sống lưng tôi căng như dây đàn nhưng lại không nỡ né tránh.
Mùi hương trên người anh rất nhạt, không phải mùi nước hoa, mà giống như mùi thơm thoang thoảng của nước giặt xả, lại giống như cái mùi sạch sẽ, ấm áp bị hệ thống lò sưởi trong văn phòng hong khô bốc lên.
Tôi vô thức nín thở, rồi di chuyển con trỏ chuột đến điểm đó để chỉ cho anh xem: “Làm một khu vực nghỉ ngơi bán mở. Dùng gỗ thuyền cũ làm ghế dài, trên tường sẽ phát lại video ghi chép lịch sử truyền miệng của các công nhân bến tàu.”
“Được.” Anh thẳng người dậy, biểu cảm lại khôi phục vẻ công tư phân minh của Bên A, nhưng lúc lùi ra, cổ tay anh vô tình sượt qua ngón tay tôi.
Không phải cố ý, lực lướt nhẹ như một chiếc lá khô chạm vào mu bàn tay, nhưng lại khiến tim tôi lỡ mất một nhịp.
Cuộc họp kết thúc, tôi đuổi theo chặn anh ở cửa khu vực thang máy. Những người khác đều đã vào thang máy hết, chỉ còn tôi và anh đứng lại trên hành lang. Tôi hạ giọng hỏi anh: “Thẩm Trục Dã, lúc nãy anh có phải là cố ý không?”
“Cố ý chuyện gì?” Anh biết rõ còn cố hỏi, đường vòng cung cong lên nơi khóe mắt khiến tôi chỉ muốn đấm cho một cái.
“Anh tự biết.”
“Tôi đang xem bản thảo, không để ý.” Anh bước lướt qua tôi, đi được hai ba bước lại khựng lại, quay đầu bổ sung thêm một câu: “Nhưng cái khoảnh khắc em lùi lại né tránh thì tôi có để ý đấy.”
Tôi tức muốn bẻ đôi chiếc bút cảm ứng trong tay.
Tuần thứ năm, hạn chót để bàn giao bản thảo cuối cùng cận kề. Toàn bộ nhóm dự án của Văn hóa Trục Dã và công ty tôi cộng lại gần ba mươi người, điên cuồng tăng ca.

