Trong điện thoại ông ấp úng hồi lâu mới nói:
“Bắc Vọng, có người đến.”
“Ai thế bố?”
Ông im lặng một chốc.
“Mẹ con.”
Tay cầm ống nghe của tôi siết chặt.
“Mẹ con về làng. Bảo là trường tổ chức đi, về nông thôn dạy học hỗ trợ.”
Dạy học hỗ trợ.
Trong lý lịch của giáo sư Trần Tú Lan chắc lại có thêm một dòng vinh dự chói lọi: “Hưởng ứng lời kêu gọi, trở lại nơi từng là thanh niên trí thức để dạy học hỗ trợ.”
“Bà ấy ——” giọng bố tôi rất trầm, “bà ấy lên sườn dốc.”
Sườn dốc.
Nơi kiếp trước chôn cất tôi.
Kiếp này trên sườn dốc đó chẳng có gì cả.
Nhiều năm trước, bố tôi đã trồng một cây hòe trên đó.
Hồi bé tôi từng hỏi ông sao lại trồng cây ở đó.
Ông bảo: “Để lấy bóng mát.”
Điều ông không nói là —— nếu tôi không sống lại, dưới gốc cây đó đáng lẽ là phần mộ của tôi.
Ông trồng một cái cây ở đó, dường như chỉ cần cái cây còn sống, thì đại diện cho việc vẫn còn một thứ gì đó tồn tại.
“Bà ấy đứng dưới gốc cây rất lâu.” Bố tôi nói.
“Rồi sao nữa bố?”
“Rồi bà ấy đến nhà. Hỏi thăm tình hình của con. Bố bảo con trên tỉnh, mọi chuyện đều tốt. Thế là bà ấy đi.”
Ông kể nghe rất nhẹ nhàng.
Nhưng tôi nghe ra được, bàn tay cầm ống nghe của ông đang run.
Cách đường dây điện thoại mấy trăm dặm, tôi nghe thấy tiếng thở của ông —— nặng nhọc, kìm nén.
“Bố.”
“Ừm.”
“Bố đừng buồn.”
Ông im lặng mấy giây.
“Bố không buồn.”
Nói xong ông cúp máy.
Tôi cầm ống nghe đứng lặng rất lâu.
Sau đó tôi xin nghỉ phép, về quê một chuyến.
Đến nhà lúc xế chiều. Bố tôi đang ngồi dưới gốc cây táo trong sân.
Cây táo đã già cỗi, vỏ cây nứt nẻ sần sùi bám đầy thân cây, cành lá không còn xum xuê như trước, nhưng năm nay vẫn ra quả.
Thấy tôi về, ông đứng lên.
“Sao thế? Sao tự nhiên lại về?”
“Con nhớ bố.”
Miệng ông lầu bầu một câu “chỉ giỏi chạy lung tung”, nhưng chân đã bước về phía bếp.
Khỏi phải đoán cũng biết —— ông đi hầm gà.
Lúc ăn cơm, tôi hỏi ông: “Bà ấy có nói gì thêm không bố?”
Ông vừa gặm đùi gà vừa trả lời ú ớ: “Không. Chỉ đứng một lúc rồi đi.”
“Trông bà ấy thế nào bố?”
Động tác nhai của ông chậm lại.
“… Già rồi.”
Ông dùng từ “già rồi”.
Không phải “gầy đi”, “béo lên”, “tốt hay không tốt”.
Mà là “già rồi”.
Ông dùng hai từ này để tóm tắt toàn bộ cảm nhận trong khoảnh khắc nhìn thấy bà ấy.
Tôi không hỏi thêm nữa.
Ngày hôm sau, tôi đến trường tiểu học trên thị trấn —— đó là nơi Trần Tú Lan dạy hỗ trợ.
Tôi không vào trong.
Tôi đứng ngoài cổng trường, nhìn qua khe hàng rào sắt vào trong.
Trên sân vận động có một người phụ nữ đang giảng bài cho bọn trẻ.
Học ngoài trời.
Bà ấy ngồi trên chiếc ghế gấp, trước mặt là một vòng tròn những đứa trẻ bảy tám tuổi.
Tóc bà ấy đã bạc trắng.
Không phải kiểu bạc từ từ —— mà là một màu trắng đồng đều, được gội sạch sẽ. Bà ấy mặc một chiếc áo len màu xám, đeo kính, lưng hơi còng.
Giọng bà ấy từ sân vọng lại.
“Các em, hôm nay chúng ta cùng học một bài thơ —— ‘Từ mẫu thủ trung tuyến, Du tử thân thượng y. Lâm hành mật mật phùng, Ý khủng trì trì quy’.” *( Sợi chỉ trong tay mẹ hiền, Khâu áo cho con lên đường. Lúc đi khâu vá mớn mót, Sợ con đi mãi lâu về)*
Khi đọc đến câu “Ý khủng trì trì quy”, giọng bà ấy bỗng khàn đi một chút.
Chỉ khàn đi một chút, rồi lại trở lại bình thường.
Có lẽ không ai để ý.
Nhưng tôi để ý.
Tôi đứng ngoài hàng rào, nhìn bà ấy rất lâu.
Bà ấy không phát hiện ra tôi.
Bà ấy đang nghiêm túc dạy bọn trẻ đọc thơ.
Bà ấy dạy rất tốt. Cử chỉ dịu dàng, giọng nói rõ ràng, uốn nắn bọn trẻ đọc từng câu từng chữ.
Nét mặt bà ấy rất bình thản.
Nhưng bàn tay bà ấy —— bàn tay đặt trên đầu gối —— đang hơi run run.
Tôi không biết bà ấy đang nghĩ gì.
Có thể bà ấy đang nghĩ đến buổi sáng mùa thu năm ấy, bà nấu cho một cậu bé năm tuổi rưỡi bát cháo thêm đường đỏ.

