Trên khoen chìa khóa quả nhiên có quấn một mẩu băng dính màu trắng.
Bên trên nắn nót viết một chữ “Lâm”.
Tôi không đưa tay ra nhận:
“Căn nhà này là của chú.”
“Em biết.”
“Thế đưa chìa khóa cho tôi làm gì?”
“Em cũng chẳng biết nữa.”
“Mẹ để lại cho anh đấy.”
Nó đặt chiếc chìa khóa xuống mặt bàn trước mặt tôi:
“Tùy anh quyết định.”
Tôi nhìn chằm chằm vào chiếc chìa khóa ấy rất lâu.
Cuối cùng, tôi đưa tay cầm lấy.
Chiếc chìa khóa nhẹ bẫng.
Nhưng nắm chặt trong lòng bàn tay, lại có cảm giác cưng cứng, nhói buốt đến lạ kỳ.
Tôi đứng dậy:
“Tôi vào phòng mẹ một lát.”
Chu Lỗi không đi theo.
Căn phòng ngủ của mẹ vợ vẫn giữ nguyên hiện trạng như trước ngày bà nhập viện.
Chiếc chăn trên giường được gấp vuông vắn, gọn gàng.
Trên đầu giường đặt chiếc kính lão cũ.
Bên bậu cửa sổ có một chậu cây trầu bà, lá đã hơi héo úa vì thiếu nước.
Tôi cầm bình tưới, tưới cho nó một chút nước.
Lúc mở tủ quần áo ra, tôi nhìn thấy bên trong có treo một chiếc áo khoác nam màu xám đậm.
Tôi sững sờ.
Đó là áo của tôi.
Bốn năm trước tôi về quê ăn Tết, lúc đi vội quá nên để quên lại đây.
Sau đó mẹ vợ có gọi điện giục tôi về lấy áo.
Tôi ngại phiền phức, bảo bà là áo cũ rồi con không cần nữa đâu.
Bà liền mắng tôi là đồ phá của:
“Cái áo mấy trăm nghìn bạc, bảo vứt là vứt ngay được à?!”
Tôi bảo: “Thế mẹ vứt hộ con đi.”
Bà nói: “Tao không vứt, tao cất đấy cho mày.”
Tôi cứ ngỡ bà đã đem vứt hoặc cho ai từ lâu rồi.
Không ngờ bà vẫn treo nó ngay ngắn ở đây.
Bên ngoài chiếc áo còn được cẩn thận bọc một lớp túi chống bụi trong suốt.
Tôi đưa tay sờ nắn chiếc áo.
Trong túi áo có cộm lên một vật gì đó.
Tôi thò tay móc ra, thấy một gói khăn giấy bỏ túi, một tờ hóa đơn siêu thị đã bay hết màu mực.
Và hai viên kẹo hoa quả.
Vỏ kẹo đã chảy nước, dính chặt vào nhau.
Tôi đứng lặng trước tủ quần áo, bất động hồi lâu.
Chu Lỗi đứng ở cửa phòng khẽ hỏi: “Anh tìm thấy cái gì thế?”
“Áo khoác của tôi.”
Nó thò đầu nhìn vào:
“À…”
“Mẹ cứ dặn mãi là không ai được động vào cái áo đó.”
Tôi gỡ chiếc áo khoác xuống:
“Cái này tôi mang đi nhé.”
“Vâng, anh cứ mang đi.”
Tôi vắt chiếc áo lên cánh tay.
Lúc bước ngang qua tủ đầu giường, tôi nhìn thấy bên dưới tấm kính có lót một tấm ảnh.
Là ảnh của Chu Tĩnh.
Trong ảnh, cô ấy mới ngoài hai mươi tuổi, buộc tóc đuôi ngựa, nụ cười rạng rỡ khiến đôi mắt cong cong như vầng trăng khuyết.
Bức ảnh ấy tôi cũng có một tấm giống hệt.
Chụp ở công viên trước ngày chúng tôi làm đám cưới.
Tôi không lấy bức ảnh đi.
Tôi chỉ lấy vạt áo khẽ lau sạch lớp bụi mỏng bám trên mặt kính.
Lúc tôi bước ra phòng khách, Chu Lỗi đang ngồi xổm trước cửa gom mấy chiếc thùng carton dưới đất.
Thấy tôi ôm chiếc áo cũ, nó không nói gì.
Tôi bước vào bàn ăn.
Triệu Phương đã nấu xong ba bát mì sợi bốc khói nghi ngút:
“Anh rể ăn một miếng lót dạ rồi hãy đi.”
Tôi bảo không đói.
Cô ấy dúi đôi đũa vào tận tay tôi:
“Buổi trưa anh đã chẳng ăn được mấy miếng rồi.”
“Đường về thành phố lái xe mất hơn hai tiếng đồng hồ đấy anh.”
Tôi ngồi xuống.
Trong bát mì có một quả trứng ốp la lòng đào.
Và vài cọng rau cải xanh mướt.
Nơi góc bàn đặt một lọ thủy tinh đựng ớt chưng quen thuộc của mẹ vợ.
Triệu Phương hỏi: “Anh ăn cay không?”
Tôi bảo: “Cho anh xin một thìa.”
Cô ấy xúc một thìa đầy bỏ vào bát cho tôi.
Vừa húp ngụm nước dùng đầu tiên, tôi đã khựng người lại:
“Ớt này… là mẹ làm đấy à?”
Triệu Phương gật đầu:
“Lọ cuối cùng trong tủ lạnh đấy anh.”
Tôi không nói thêm lời nào nữa.
Ba người chúng tôi cắm cúi ăn mì.
Không ai nhắc lại chuyện tiền nong nữa.
Ăn được nửa bát, Chu Lỗi bỗng ngẩng lên hỏi: “Anh rể, sau này… anh có còn về đây nữa không?”
Đôi đũa trên tay tôi khẽ dừng lại:
“Về làm gì nữa?”
Nét mặt nó hơi sượng sùng:

