Khoảnh khắc khoác bộ chiến giáp ấy lên người, nàng tựa như biến thành một con người khác.

Một nữ tử lặng lẽ ngồi giữa sân phơi hoa kim ngân, giã thuốc, sắc thuốc ngày thường đã biến mất.

Đứng trước mặt ta lúc này, là Trấn Bắc Tướng quân Hoắc Thanh Đại.

Mãnh hổ tướng môn bách chiến bách thắng.

“Phải sống mà trở về đấy.”

Ta đứng dưới mái hiên, nước mưa thấm ướt gấu vạt áo.

Nàng gật đầu, xoay người lên ngựa, chẳng ngoảnh mặt lại mà đi thẳng.

Năm đó, quả thực rất đỗi gian nan.

Chiến báo ở Bắc cảnh hết bức này tới bức khác gửi về kinh thành.

Mỗi phong chiến báo đều khiến triều đường chấn động, bách tính lo âu, khiến ta đêm đêm trằn trọc không sao chợp mắt.

Trận chiến của Thanh Đại diễn ra vô cùng thảm khốc.

Người Địch Nhung tuy trước đó có tổn hại nguyên khí, nhưng sự dẻo dai của dân du mục thảo nguyên vượt xa sức tưởng tượng của mọi người.

Lần này chúng dốc toàn bộ binh lực, phô trương thanh thế mười vạn thiết kỵ.

Mà số quân trong tay Thanh Đại, tính toán chi li cũng chưa tới bốn vạn.

Trận đầu tiên, Thanh Đại thua.

Chiến báo báo về, dưới chân Âm Sơn nàng tao ngộ chủ lực Địch Nhung, ác chiến ba ngày, thương vong thảm trọng, buộc phải rút lui trăm dặm.

Triều đường bùng nổ như ong vỡ tổ.

Có kẻ bắt đầu đàn hặc Thanh Đại, chỉ trích nàng “khinh địch mạo tiến”, nói nàng “thân phận nữ nhi không gánh vác nổi trọng trách”.

Hoàng đế đè hết những tấu chương đàn hặc xuống, chỉ nhả ra một chữ.

“Đợi.”

Tháng thứ hai, bức chiến báo thứ hai đến.

Thanh Đại bày trận mai phục phía bắc Âm Sơn, dùng ba ngàn khinh kỵ dụ địch vào sâu, nhử hai vạn tiên phong Địch Nhung vào hẻm núi, hỏa thiêu liên doanh, diệt một vạn hai ngàn, bắt sống ba ngàn tên địch.

Triều đường im bặt.

Tháng thứ ba, bức chiến báo thứ ba.

Thanh Đại dạ tập đại doanh Địch Nhung, trảm tám trăm thân vệ của Vương trướng, suýt chút nữa bắt sống được Khả hãn Địch Nhung.

Khả hãn phải bỏ chạy trong đêm lên phương bắc ba trăm dặm.

Tháng thứ tư, bức chiến báo thứ tư.

Thanh Đại vượt qua Âm Sơn, mũi giáo chĩa thẳng vào Vương đình Địch Nhung.

Mỗi phong chiến báo gửi về đều là tin đại tiệp.

Chiến trận kéo dài ròng rã một năm trời.

Trong vòng một năm, Thanh Đại đánh từ Âm Sơn đến Mạc Bắc, từ Mạc Bắc càn quét đến Hãn Hải.

Cái tên của nàng trở thành cơn ác mộng của người Địch Nhung.

Trên thảo nguyên bắt đầu lưu truyền một truyền thuyết.

Đại Chu có một vị nữ Tu La, khoác giáp bạc cưỡi bạch mã, sở hướng phi mỹ, lưỡi đao của nàng nhuốm đầy máu của các dũng sĩ Địch Nhung.

Không một ai có thể trụ được ba hiệp trước mặt nàng.

Ngọn cờ của nàng cắm đến đâu, đó chính là cương thổ của Đại Chu.

Cuối cùng, vào tháng thứ mười hai, phong chiến báo cuối cùng gửi về.

Thanh Đại binh lâm thành hạ tại Vương đình Địch Nhung, Khả hãn Địch Nhung phải dâng lên thư hàng.

Cúi đầu xưng thần, vĩnh viễn không làm phản.

Năm năm cống nạp, tuế tuế triều bái.

Khi chiến báo đưa đến ngự thư phòng, Hoàng đế đọc đi đọc lại ba lần.

Rồi ngài bật cười.

Cười mãi cười mãi, hốc mắt chợt đỏ hoe.

“Hay… hay cho một Hoắc Thanh Đại…”

Hôm ấy, cả kinh thành sục sôi.

Bách tính ùa ra đường, khua chiêng gõ mống, đốt pháo hoa, múa lân sư rồng.

Trong quán trà tửu lâu đâu đâu cũng kể câu chuyện của Thanh Đại, ca tụng nàng là “Tình tú trên trời hạ phàm”, là “Tướng tài trăm năm khó gặp của Đại Chu”.

Chẳng còn ai nhắc tới những lời lẽ xằng bậy kiểu “thân phận nữ nhi không gánh vác nổi trọng trách” nữa.

Tất thảy mọi người đều tung hô tên nàng.

Hoắc Thanh Đại.

Ngày khải hoàn, ta dậy thật sớm đợi ở cổng thành.

Nhìn chữ “Hoắc” tung bay trong gió.

Cánh chim ưng sải cánh bay lượn trên lá cờ phần phật uy phong.

Đi đầu hàng quân là bóng người giáp bạc bạch mã.

Người đó gỡ mũ giáp xuống, kẹp dưới nách.