Cuối cùng, ta nếm thử món cá trên bàn rồi cảm thán Đông cung quả nhiên không nuôi người nhàn rỗi, đến đầu bếp cũng là một bậc kỳ tài hiếm có trên đời.

Thế là những lời chàng chuẩn bị đều không thể nói ra được một câu.

Sáng ngày hôm sau, khi trời còn chưa sáng, Tiêu Thừa Cảnh đã đến thư phòng.

Lúc ta tỉnh dậy, bên gối đã lạnh ngắt.

Đợi ta rửa mặt chải đầu xong rồi sang đó, chàng đang ngồi sau thư án phê tấu chương.

Trên bàn chất đầy tấu sớ, cao đến nửa người.

Bữa sáng đặt ở bên cạnh vẫn còn nguyên, cháo trắng đã đóng một lớp màng mỏng.

Nội thị nói với ta, mỗi ngày Thái tử đều thức dậy vào giờ Mão, luyện kiếm nửa canh giờ, sau đó đọc tấu chương, thường xuyên bận đến tận đêm khuya.

Ta nghe xong, trong lòng lập tức sinh ra kính phục.

Mỗi lần tổ phụ đọc tấu chương, ít nhất cũng phải ném vỡ hai chén trà.

Cha ta đọc một bức thư nhà còn phải nghỉ ba lần.

Tiêu Thừa Cảnh đối mặt với nhiều chữ như vậy mà vẫn có thể giữ được tỉnh táo.

Ta ngồi bên cạnh đếm thử.

Trong thời gian một nén hương, chàng đã phê xong sáu quyển.

Với tốc độ này, quan viên lục bộ nếu không chăm chỉ hơn một chút, đến lượt gây phiền phức cho chàng cũng phải xếp hàng.

Ta ngồi xuống đối diện chàng, chống cằm nhìn một lúc.

Chàng không ngẩng đầu:

“Có chuyện gì?”

“Không có chuyện gì. Thần thiếp chỉ muốn đến xem người bận rộn nhất thiên hạ làm cách nào quên sạch cả bữa sáng.”

“Không cần.”

“Vậy thần thiếp ngồi xa một chút.”

Ta kéo ghế lùi về phía sau nửa thước.

Tiêu Thừa Cảnh cuối cùng cũng ngẩng mắt:

“Khương Bảo Châu.”

Hai mắt ta càng sáng hơn:

“Điện hạ thành hôn mới ngày thứ hai đã nhớ được tên thần thiếp, quả nhiên là người có trí nhớ hơn người.”

Chàng lại im lặng.

Ta đoán từ nhỏ đến lớn, chàng từng nghe rất nhiều lời nịnh nọt, nhưng chưa từng nghe loại lời nịnh nọt nào mà câu nào cũng có căn cứ như của ta.

Triều thần khen Thái tử, phần lớn đều khen chàng hiền minh đoan chính, lòng mang xã tắc.

Khen xong liền đòi tiền, đòi chức quan, hoặc muốn chàng nói tốt cho ai đó trước mặt hoàng đế.

Ta thì không giống vậy.

Ta khen chàng, không cầu quan, cũng không cầu tiền.

Ta chỉ cầu chàng chịu ăn cơm.

Ta bưng bát cháo đã nguội đi, sai tiểu trù phòng nấu lại một bát khác, sau đó mang về thêm hai đĩa điểm tâm.

Tiêu Thừa Cảnh vẫn tiếp tục xem tấu chương.

Ta đưa một miếng bánh hạt dẻ đến bên môi chàng.

Chàng nghiêng đầu tránh đi:

“Cô không đói.”

“Điện hạ để bụng đói phê tấu chương, là sợ ăn no rồi phê quá nhanh, khiến lục bộ có vẻ làm việc chậm chạp sao? Điện hạ quả thực quá biết suy nghĩ cho triều thần.”

Chàng nhìn ta một cái.

Ta chớp chớp mắt, càng khen hăng say hơn:

“Nhưng da mặt triều thần rất dày, chịu được so sánh. Điện hạ cứ ăn trước một miếng, đừng vì chăm sóc thể diện cho bọn họ mà làm khổ bản thân.”

Bàn tay cầm bút của Tiêu Thừa Cảnh dừng lại trong chốc lát.

Cuối cùng, chàng vẫn nhận lấy miếng bánh hạt dẻ.

Ta không nhịn được, nhẹ nhàng vỗ tay hai cái.

Chàng hỏi:

“Nàng vỗ tay làm gì?”

“Điện hạ biết nghe lời can gián, đại sự đầu tiên của Đông cung hôm nay cuối cùng cũng đã hoàn thành.”

“…”

Sau đó ta phát hiện, nịnh nọt cũng giống như phê tấu chương, đều phải biết tùy cơ ứng biến.

Chàng phê nhanh, ta khen chàng xử sự quyết đoán.

Chàng phê chậm, ta khen chàng suy nghĩ chu toàn.

Có một lần, chàng bóp gãy cả bút son, ta lại khen cổ tay chàng mạnh mẽ hơn người.

Người trên dưới Đông cung nghe suốt nửa tháng, cuối cùng cũng hiểu được điều quan trọng nhất trong bản lĩnh này của ta không phải là biết nói.

Mà là bất kể xảy ra chuyện gì, ta đều có thể tìm được chỗ để khen.

Từ ngày đó, ta liền có một chức vụ đường đường chính chính trong Đông cung.

Thái tử phê tấu chương, ta chịu trách nhiệm vỗ tay.

Thái tử bị hoàng đế trách mắng, ta chịu trách nhiệm đưa điểm tâm.

Thái tử nửa đêm vẫn không chịu ngủ, ta liền ngồi ngoài cửa thư phòng đọc thoại bản.

Đọc đến đoạn quan trọng nhất, ta lập tức gấp sách, quay về phòng.

Nếu muốn biết chuyện sau đó xảy ra thế nào, chàng chỉ có thể đi theo ta.

Tổ phụ nói, việc này của ta không gọi là phò tá Thái tử, mà gọi là thuần phục ngựa.

Ta cảm thấy không đúng.

Ngựa nào có thể đẹp bằng Thái tử?

## 3

So với việc ta sống trong Đông cung như cá gặp nước, ngay ngày đầu tiên vào triều, cha ta đã gặp phải phiền phức lớn.

Công bộ và Hộ bộ vì chuyện đê điều Giang Nam mà tranh cãi suốt hai năm.

Công bộ nói nếu còn không tu sửa đê điều, đến mùa lũ năm sau nhất định sẽ xảy ra đại họa.

Hộ bộ nói quốc khố trống đến mức chuột có thể chạy nhảy bên trong. Muốn bạc thì không có, muốn lấy mạng cũng phải xếp hàng.

Hai bên từ Thượng thư cãi xuống Chủ sự, suýt chút nữa đào cả mười tám đời tổ tông của nhau lên.

Hoàng đế phiền không chịu nổi.

Hoàng đế nhìn thấy cha ta đứng cuối hàng triều thần, đầu đội ngọc quan, mặc áo xanh, dáng vẻ như đã nắm chắc mọi chuyện trong lòng, đột nhiên nhớ ra cha ta là con trai của Khương Sùng Nhạc.

“Khương khanh, ngươi nói thử xem.”

Sau này cha ta nói với ta, vào giây phút ấy, người đã nghĩ xong bản thân nên được chôn ở ngọn núi nào.

Văn võ bá quan trong triều đều nhìn người.

Cha ta chậm rãi bước ra khỏi hàng, trước tiên hành lễ với Công bộ Thượng thư:

“Thượng thư đại nhân lo lắng cho bách tính, thực sự có một tấm lòng nhân từ.”

Sắc mặt Công bộ Thượng thư lập tức dễ nhìn hơn một chút.

Người lại quay sang Hộ bộ Thượng thư:

“Đại nhân giữ túi tiền cho triều đình, một đồng cũng không chịu tiêu bừa, thực sự có một tấm lòng trung thành.”

Hộ bộ Thượng thư cũng thu lại ánh mắt đang sắp trợn lên tận trời.

Lúc này cha ta mới nói:

“Hai vị đại nhân, một người có lòng nhân từ, một người có lòng trung thành, đều là trụ cột của quốc gia. Nếu đã như vậy, chi bằng Công bộ trước tiên liệt kê ba đoạn đê nguy hiểm nhất, chỉ sửa ba đoạn ấy.”

“Hộ bộ trước tiên cấp ba phần bạc, lại lấy thêm hai phần từ số thuế muối các châu ven sông còn nợ. Phần còn lại, đợi thuế mùa thu nhập kho rồi tính tiếp.”