Tháng 8 năm 1979, Bệnh viện Nhân dân số Một tỉnh đăng thông báo tuyển dụng.

Khoa ngoại, tuyển hai bác sĩ nội trú.

Số người đăng ký toàn tỉnh: một trăm bốn mươi bảy người.

Tôi là một trong số đó.

Ngày thi, phòng thi được đặt tại giảng đường bậc thang của bệnh viện tỉnh.

Tôi ngồi ở hàng thứ ba, mở đề thi.

Phần thi viết, tôi làm xong trong một tiếng rưỡi.

Phần thi thực hành là thực hiện một ca cắt túi mật trên mô phỏng bằng lợn.

Khi tôi bước lên bàn mổ, trên hàng giám khảo có người nhỏ giọng nói:

“Cô này trẻ quá nhỉ, nhìn không giống có kinh nghiệm.”

Tôi không để ý.

Đeo găng, cầm dao.

Hai mươi sáu phút.

Một ca cắt túi mật hoàn chỉnh.

Lượng máu chảy được kiểm soát dưới ba mươi mililít.

Mũi khâu đều đặn, không thừa một mũi.

Hàng giám khảo im lặng.

Ba ngày sau, danh sách trúng tuyển được công bố.

Tên tôi đứng đầu tiên.

Đêm nhận được thông báo trúng tuyển, tôi ngồi một mình trên bệ cửa sổ ký túc xá, nhìn cảnh đêm của tỉnh thành.

Xa xa có vài đốm đèn, như vụn vàng rải trên nền vải đen.

Tôi bỗng nhớ đến bản thân ở kiếp trước.

Tôi năm mươi tuổi, ngồi trong sân khu nhà gia đình quân khu, nhìn những vì sao trên đầu, trong tay đan một chiếc áo len mãi không xong.

Chiếc áo len đó đan cho Cố Bắc Tranh.

Anh ta chưa từng mặc.

Tôi thu tầm mắt lại, hít sâu một hơi.

Tạ Tư Duyệt, cuối cùng mày cũng bước ra được rồi.

Sau khi vào làm ở Bệnh viện số Một tỉnh, tôi bắt đầu từ vị trí bác sĩ nội trú cấp thấp nhất.

Trực đêm, viết bệnh án, quản giường bệnh, theo phẫu thuật.

Các bác sĩ nội trú khác than khổ than mệt, tôi không nói một lời.

Ba mươi năm khổ cực kiếp trước, chuyện gì tôi chưa từng nếm qua?

Chút mệt này tính là gì.

Chủ nhiệm của tôi tên Lục Hằng Sơn, là một bác sĩ ngoại khoa hơn năm mươi tuổi, tính nóng như lửa, mắng người chưa bao giờ nể mặt.

Ngày đầu tiên đi buồng, ông ném bệnh án của tôi ba lần.

“Cô viết cái gì đây? Viết lại!”

“Triệu chứng chính không rõ, bệnh sử hiện tại rối loạn. Cô đến làm bác sĩ hay đến viết tiểu thuyết?”

“Tạ Tư Duyệt, nếu ngày mai cô còn mang thứ trình độ này đi làm, thì khỏi đến nữa.”

Đêm đó tôi tăng ca đến ba giờ sáng, viết lại mười hai hồ sơ bệnh án.

Ngày hôm sau nộp lên, Chủ nhiệm Lục xem một lượt, không nói gì.

Ngày thứ ba đi buồng, ông lấy bệnh án của tôi ra, nói trước mặt cả khoa:

“Nhìn bệnh án Tạ Tư Duyệt viết đi, đây mới gọi là bệnh án. Còn các cô cậu, học bốn năm năm năm, còn không bằng người ta sửa trong một đêm.”

Phòng làm việc im lặng một giây.

Sau đó tất cả mọi người đều nhìn tôi.

Có người kinh ngạc, có người không phục, có người ghen tị.

Tôi cúi đầu giả vờ sắp xếp tài liệu.

Ba tháng sau, tôi thực hiện ca mổ chính độc lập đầu tiên.

Đó là một ca cấp cứu—

Tai nạn xe, vỡ lách, mất máu nghiêm trọng.

Khi bệnh nhân được đưa đến, huyết áp đã tụt xuống 60/40, người sắp không trụ nổi.

Hôm đó Chủ nhiệm Lục không có mặt, một bác sĩ điều trị khác đang trực thì do dự không quyết.

Tôi đứng trước cửa phòng mổ, nhìn những con số nhảy trên máy theo dõi.

“Để tôi làm.”

Bác sĩ điều trị trợn mắt nhìn tôi:

“Cô chỉ là bác sĩ nội trú, cô làm cái gì?”

“Tôi từng theo giáo sư Trương Hạc Đình làm phẫu thuật cắt lách. Toàn bộ quy trình tôi thuộc lòng. Tôi làm được.”

“Cô điên rồi—”

“Anh ấy không đợi được nữa. Đợi thêm mười phút, người sẽ mất.”

Bác sĩ điều trị nhìn máy theo dõi, lại nhìn tôi, nghiến răng.

“Cô làm. Có chuyện gì tôi chịu.”

Tôi không nói thêm chữ nào, xoay người vào phòng mổ.

Rửa tay, mặc áo, đeo găng.

Từ lúc rạch ổ bụng đến khi tìm được điểm chảy máu, tôi dùng bốn phút.

Thắt động mạch lách, cắt lách, rửa ổ bụng, đóng từng lớp.

Cả ca phẫu thuật kéo dài một tiếng tám phút.

Khi bệnh nhân được đẩy ra khỏi phòng mổ, huyết áp đã tăng trở lại 110/70.