Ta bèn hỏi ngài: “Ngài để ta tham gia thi tuyển, có tính là tư vị thiên vị không đấy?”
Ngài đáp rất nhanh: “Không tính.” Nghĩ một lúc lại bảo: “Cùng lắm chỉ tính là ta báo ân mà thôi.”
Lễ cập kê của Bùi Thanh La sắp tới gần, ta chẳng thể lấy ra món lễ vật nào đáng giá nghìn vàng. Trong số những thứ mang từ quê lên, duy chỉ có hạt giống hoa mẫu đơn xanh do chính tay ta lai tạo là còn đôi phần mới lạ đặc biệt. Nàng cái gì tốt đẹp trên đời cũng đều thấy qua cả rồi, chút tâm ý mọn này biết đâu lại khiến nàng thấy mới mẻ đôi chút.
Một ngày trước đại lễ, ta vẫn còn ngồi miệt mài luyện chữ trong viện.
Thanh La đích thân mang tới một bộ lễ phục cập kê, phía sau còn có hai tỳ nữ bưng rương theo hầu.
Vừa thấy ta, nàng đã chau mày: “Ngày mai ngươi định mặc cái bộ này đến dự lễ cập kê của ta đấy à?” Nàng soi mói: “Kinh thành những nhà có máu mặt đều sẽ tề tựu đông đủ. Ngươi mặc mộc mạc quá đỗi, mất mặt là mất mặt phủ Ninh Quốc Công đấy nhé.” Đoạn nàng tiếp: “Kẻ không hiểu chuyện lại tưởng phủ ta bạc đãi ân nhân.”
Kỳ thực y phục trên người chúng ta cũng là do Ninh Quốc Công phu nhân mới ban cho. Đối với ta, đây đã là thứ y phục gấm vóc mà ngày trước dẫu có đón Tết cũng chưa từng được khoác lên người.
Bùi Thanh La phẩy tay, hai tỳ nữ lập tức đặt rương lên bàn. Trong rương xếp ngay ngắn mấy bộ váy áo, chất vải mềm mại sáng bóng, đường kim mũi chỉ và hoa văn đều tinh xảo khôn cùng.
Nàng làm bộ thờ ơ: “Chẳng cần cảm tạ ta đâu, ngày mai là lễ của ta, các ngươi mặc đẹp đẽ cũng là để giữ thể diện cho ta thôi.”
Ta vẫn nghiêm túc tạ ơn: “Thanh La tiểu thư, phần tâm ý này ta xin ghi tạc trong lòng.”
Nàng ngoảnh mặt đi: “Đã bảo không cần cảm tạ rồi mà.”
Nàng vừa ngồi xổm xuống, Tô Đào đã nhào ngay vào lòng: “Tỷ tỷ, sao lâu thế tỷ mới sang thăm Đào Đào?”
A Bách nhìn đến ngây cả người: “Đào Đào không gạt đệ, tỷ tỷ trông hệt như tiên nữ bước ra từ trong tranh vậy!”
Vành tai Bùi Thanh La lại đỏ ửng lên. Nàng véo véo má hai đứa nhỏ: “Miệng ngọt xớt thế này, ngày thường ắt ăn không ít kẹo rồi.” Vừa nói nàng vừa móc túi kẹo ra: “Chỗ này cầm lấy mà ăn dần.”
Hai đứa trẻ cùng reo hò ầm ĩ: “Đa tạ Thanh La tỷ tỷ!”
Nàng cầm lấy một bộ y phục nhỏ ướm vào người Tô Đào hỏi: “Tỷ tỷ thay xiêm y mới cho muội nhé, chịu không?”
Tô Đào gật đầu lia lịa.
Thanh La vừa mặc cho con bé vừa lẩm bẩm chỉ dẫn: tay nào xỏ trước, dải thắt lưng quấn ra sao, khuy áo cài thế nào. Nàng cố tình làm thật chậm rãi từng động tác để ta có thể nhìn cho thật tỏ tường.
Đợi khi Tô Đào mặc xong, ta rốt cuộc cũng học được cách mặc chỉnh tề bộ lễ phục kia, bèn nói: “Thanh La, đa tạ muội đã chỉ dẫn.”
Nàng lập tức chối bay chối biến: “Ta nào có dạy, là do ngươi tự nhìn mà biết đấy chứ.” Đoạn nàng bảo: “Ca ca ta nói ngươi muốn học chữ? Nếu huynh ấy không có ở phủ, ngươi cứ việc qua tìm ta mà hỏi.” Nàng ngẩng cao đầu khoe khoang: “Học vấn của ta chẳng thua kém gì huynh ấy đâu nhé.” Rồi lại bĩu môi hậm hực: “Nếu ta mà được đi thi khoa cử, cái chức Trạng nguyên kia làm sao tới lượt huynh ấy ẵm về!”
Ta cười đáp: “Vậy sau này xin nhờ Thanh La tiên sinh chỉ giáo nhiều hơn.”
Nàng cố làm bộ nghiêm nghị: “Sao lại khách sáo nữa rồi, ngươi rốt cuộc định cảm tạ bao nhiêu lần mới vừa lòng hả?”
7.
Những ngày sau đó, mỗi bận Bùi Yến Chu bãi triều trở về, ba người chúng ta lại quây quần bên ngọn đèn dầu học chữ, ngài kiên nhẫn giảng dạy từ những nét cơ bản nông cạn nhất. Mỗi ngày sau giờ học đều có bài tập, sang ngày hôm sau chẳng ai trốn thoát được màn kiểm tra nghiêm ngặt.
A Bách hai ngày đầu còn hăng hái phấn khởi, đến ngày thứ ba đã la oai oái rằng đọc sách chẳng bằng làm ruộng, thà về quê nuôi lợn còn sướng hơn.
Ta bèn dắt nó ra ngã tư cách Quốc Công phủ hai con phố, chỉ cho nó tên mấy cửa hiệu dọc đường, rồi nghiêm lệnh cấm nó hỏi đường, bắt tự mình đi bộ lần về. Thằng bé nhờ vậy đã nhận mặt được mấy chữ trên bảng hiệu, cuối cùng quả nhiên bình an về tới cổng phủ.
Kể từ ngày hôm đó, nó mới thấm thía rằng biết chữ có thể cứu mạng lúc nguy nan, chẳng bao giờ dám mở miệng đòi về quê nuôi lợn nữa.
Hôm nọ, Bùi Yến Chu mang về cho ta một cuốn sách mỏng dùng để vỡ lòng cho con trẻ. Ngài đặt cuốn sách vào tay ta: “Chờ khi chữ nghĩa trong này đều biết đọc biết viết thông thạo, nàng có thể bắt đầu tập tành viết văn rồi.”
Mấy trang giấy mỏng manh đè lên lòng bàn tay, thế mà ta lại thấy trĩu nặng nghìn cân.
Bùi Yến Chu còn nhắc nhở: “Còn chưa đầy hai tháng nữa là tới kỳ thi tuyển rồi, Tô Hòa, nàng phải nỗ lực dụng công hơn người khác gấp bội.”
Đêm hôm đó, ta chong đèn ôn luyện tới tận canh ba. Lúc đẩy cửa sổ hít thở chút không khí trong lành, ta chợt thấy bên ngoài bậu cửa sổ có đặt một thố canh vẫn còn ấm nóng. Dưới đáy thố canh có chèn một phong hoa tiên nhỏ nhắn.
Bên trên nắn nót dòng chữ: “Đoán chắc nàng sẽ thức khuya, uống canh cho ấm bụng rồi hãy nghỉ ngơi sớm.”
Đó là nét chữ của Bùi Yến Chu.
Ta bất giác mỉm cười, hóa ra ban ngày ngài cố tình dạy ta hai chữ “Ngao” (熬 – thức đêm) và “Hiết” (歇 – nghỉ ngơi), là đã sớm có chủ ý này rồi.
Đại lễ cập kê của Bùi Thanh La quả nhiên tân khách chật ních cả sảnh đường, nơi nơi đều giăng đèn kết hoa vô cùng náo nhiệt. Nàng thu lại vẻ nũng nịu ngây thơ thường ngày, trước mặt bàn dân thiên hạ từng cử chỉ bước đi đều ung dung đoan trang, khéo léo vô cùng.
Tô Đào ngước nhìn ta hỏi: “A tỷ ơi, ngày trước tỷ cũng từng làm lễ cập kê long trọng thế này ạ?”
A Bách lập tức chau mày: “Cha mẹ mất cả rồi, lấy ai chải tóc làm lễ cho a tỷ chứ?”
Ta xoa đầu hai đứa nhỏ: “Đương nhiên là có làm rồi. Ngày a tỷ cập kê, thôn trưởng nấu cho một bát mì sợi trắng to đùng, thím còn đập thêm ba quả trứng gà luộc nữa đấy.” Ta cười nhắc nhở: “Ba tỷ đệ chúng ta chia nhau ăn sạch sành sanh, hai đứa quên tiệt rồi sao?”
Hai đứa nhỏ đồng loạt lắc đầu. Chuyện trước năm ba tuổi, bọn chúng làm sao mà nhớ cho nổi.
Quên đi cũng tốt.
Những chuỗi ngày gian khổ cơ cực ấy, một mình ta khắc cốt ghi tâm là đủ rồi.
Sau khi chính lễ kết thúc, trong phủ bày biện tiệc trà thiết đãi. Nam thanh nữ tú, già trẻ gái trai túm năm tụm ba tìm người quen trò chuyện rôm rả, tiếng cười nói vang vọng khắp hoa viên. Ta chỉ quen biết mỗi đám tỳ nữ trong phủ, song bọn họ bận rộn đến tối tăm mặt mũi, chân không chạm đất, làm sao rảnh rỗi mà chuyện trò hàn huyên.
Thấy chẳng có ai để mở lời, ta dứt khoát định bụng quay về viện tiếp tục dùi mài kinh sử.
Vừa xoay người lại, Thanh La đã túm chặt lấy vạt áo ta, ngập ngừng hồi lâu mới thốt nên lời: “Ca ca ta nói tỷ có chuẩn bị quà cho ta, đồ đâu rồi? Tỷ không phải lâm trận tiếc của đấy chứ?”
Ta lấy túi gấm đựng hạt giống hoa mẫu đơn xanh đưa cho nàng: “Vốn định lát nữa vắng vẻ sẽ mang qua viện cho muội, cách thức gieo trồng ta sẽ đích thân dặn dò hoa tượng trong phủ.” Ta thật thà thú nhận: “Ban đầu ta tính viết cách trồng ra giấy để khoe chút tài mọn, ngặt nỗi vẫn còn vài chữ ta chưa biết viết thế nào.”
Thanh La tò mò mở túi gấm ra xem.
Một vị cô nương áo đỏ đứng cạnh lập tức bĩu môi chê bai: “Thứ đen thui thùi lùi này là cái giống gì thế? Trông bẩn thỉu chết đi được.”
Ta điềm đạm đáp: “Là hạt mẫu đơn, mẫu đơn xanh do chính tay ta lai tạo.”
Hai vị tiểu thư bên cạnh Thanh La mắt sáng rực lên: “Mẫu đơn xanh ư? Xưa nay chưa từng thấy bao giờ! Thanh La, khi nào hoa nở muội nhất định phải mời tụi này sang ngắm đấy nhé!”
Bùi Thanh La nhướng mày đắc ý, vẻ mặt kiêu hãnh như thể trong viện mình đã nở rộ ngập tràn kỳ hoa dị thảo.
Liễu Minh Nguyệt vốn coi thường chuyện nhà nông thô kệch, cười khẩy giễu cợt: “Có hiếm lạ đến đâu thì chung quy cũng chỉ là nhánh mẫu đơn tầm thường mà thôi.” Nàng ta lại quay sang ta: “Ngươi ngày thường chính là kẻ lội ruộng làm mấy việc đồng áng bẩn thỉu đó sao?”
Ta gật đầu: “Đúng vậy.”

