Đám đông xung quanh ồ lên một tiếng kinh hoàng.
Tạ Minh Châu the thé quát: “Tỷ nói bậy nói bạ!”
Đúng lúc này, từ bên trong cánh cửa vang lên một giọng nói già nua, uy nghiêm:
“Tất cả câm miệng hết lại cho ta.”
Hai ma ma đỡ một bà lão tóc bạc phơ bước ra.
Người khoác trên mình bộ trường bào hoa văn chữ thọ màu tím thẫm, đôi mắt tuy đã đục ngầu vì tuổi tác nhưng vẫn vô cùng sắc sảo.
Vệ Hành thấp giọng nhắc nhở: “Lão phu nhân.”
Ta nhìn bà.
Bà cũng nhìn ta chăm chú.
Rất lâu sau đó, bàn tay bà bắt đầu run rẩy bần bật:
“Giống.”
Lại là chữ này.
Bà bước xuống bậc thềm, đưa tay ra muốn sờ vào mặt ta.
A Hôi từ góc phố bỗng phóng vọt tới, chắn ngay trước người ta, trong cổ họng gầm gừ đe dọa.
Đám đông sợ hãi lùi dạt ra xa.
Gia đinh Tạ phủ nhao nhao rút gậy gộc ra.
Ta vỗ nhẹ lên đầu A Hôi:
“Đừng cắn.”
A Hôi vẫn gườm gườm nhìn chằm chằm vào lão phu nhân.
Lão phu nhân không hề lùi bước.
Bà nhìn vào chiếc khóa trường mệnh trước ngực ta, nước mắt bỗng chốc tuôn rơi lã chã:
“Phất Y, là tổ mẫu vô dụng.”
“Tổ mẫu đã tìm con suốt mười năm trời.”
Câu nói này nghe còn lạnh lẽo hơn cả băng tuyết.
Ta hỏi bà: “Năm đó là ai đã để Mạnh thị đưa con ra khỏi thành?”
Mặt lão phu nhân trắng bệch ra.
Môi bà mấp máy mấy lần, nhưng chẳng thốt nên lời.
Mạnh thị bỗng nhiên quỳ sụp xuống khóc lóc thảm thiết:
“Mẫu thân, người phải tin con!”
“Nó vừa về kinh đã bị người ta xúi giục, rõ ràng là muốn hãm hại con mà!”
“Bên cạnh nó còn dắt theo hai đứa con nít không rõ nguồn gốc lai lịch, huyết mạch của Tạ gia làm sao có thể để nó bôi tro trát trấu như thế được!”
A Mãn bỗng nhiên từ sau lưng ta thò đầu ra.
Gió thổi tốc cổ áo thằng bé, làm lộ ra một góc sau gáy.
Vết bớt màu bạc nhạt hình trăng khuyết lóe lên dưới ánh tuyết.
Tiếng khóc của Mạnh thị bỗng nhiên im bặt.
Đồng tử của lão phu nhân co rút mạnh lại.
Đám Cẩm y vệ phía sau lưng Vệ Hành đồng loạt biến sắc.
Dây đàn căng thẳng trong lòng ta bị gảy mạnh một tiếng vang giòn.
Ta xoay người che chắn kín cho A Mãn:
“Rốt cuộc các người đang nhìn cái gì thế hả?”
Không ai trả lời ta.
Chỉ có ống tay áo của Mạnh thị là run rẩy ngày một dữ dội hơn.
Giây tiếp theo, bà ta như thể vừa nhìn thấy quỷ dữ giữa ban ngày, vịn chặt lấy Tạ Minh Châu lùi liền ba bước.
05
Cánh cửa lớn của Tạ phủ cuối cùng cũng mở ra.
Không phải là cung kính mời ta vào.
Mà là lão phu nhân trước mặt bàn dân thiên hạ trên phố, nắm chặt lấy tay ta, dắt ta đi qua cửa chính.
Mạnh thị lầm lũi đi theo phía sau, sắc mặt trắng bệch như tro tàn người chết.
Tạ Minh Châu mấy lần toan mở miệng nói gì đó, đều bị bà ta bấm chặt tay ngăn lại.
Người hầu kẻ hạ trong phủ quỳ rạp thành một dải.
Kẻ thì gọi đại cô nương, kẻ lại xưng đại tiểu thư.
Ta nghe mà thấy phiền lòng vô cùng.
Những danh xưng này vừa nhẹ vừa trơn tuột, tựa như lớp băng mỏng phủ trên mặt tuyết, dẫm chân lên chẳng biết sẽ nứt toác ra lúc nào.
Ta dắt tay A Viên, cõng A Mãn trên lưng, A Hôi lững thững bám sát gót chân.
Một mụ quản sự định ngăn con sói lại.
Ta liếc mắt nhìn mụ một cái.
Mụ lập tức sợ hãi nuốt ngược lời nói vào trong bụng.
Lão phu nhân sai người đưa ta tới Tùng Hạc Đường.
Trên đường đi ngang qua một hồ nước.
Mặt hồ đóng băng trắng xóa, ven bờ hoa mai đang nở rộ rực rỡ.
Ta khựng bước lại một thoáng.
Mười năm trước, dường như ta cũng từng chạy nhảy nô đùa ở nơi này.
Có người từng đuổi theo sau lưng ta gọi với theo: Chạy chậm thôi con.
Có một giọng nói vô cùng dịu dàng dặn dò: Phất Y, ngã là đau lắm đấy nhé.
Ta đưa tay ấn nhẹ lên ngực mình.
Nơi đó cảm thấy ngột ngạt, bức bối khôn cùng.
Vào tới Tùng Hạc Đường, lão phu nhân cho lui hết kẻ hầu người hạ ra ngoài.
Trong phòng chỉ còn lại ta, hai đứa trẻ, hai mẹ con Mạnh thị, Vệ Hành và mấy người chủ sự của Tạ gia.
Phụ thân ta, Tạ Hoài An cũng đã vội vã chạy tới.
Người mặc bộ quan bào màu thanh sắc, hai bên tóc mai đã điểm sương trắng.
Vừa nhìn thấy ta, hốc mắt người lập tức đỏ hoe:
“Phất Y.”
Người bước về phía ta.
Ta lùi lại một bước.
Bước chân người sượng sùng khựng lại giữa không trung.
Ta nhìn người:
“Mười năm rồi.”
“Lúc các người tìm thấy con, con đã có thể tự tay giết chết chó sói rồi.”
Sắc mặt Tạ Hoài An xám ngoét.
Trông người như vừa bị ai tát cho một bạt tai, nửa ngày trời chẳng thốt nên lời.
Lão phu nhân gạt nước mắt nghẹn ngào:
“Phất Y à, năm đó phụ thân con đang đi nhậm chức ở bên ngoài.”
“Đợi đến lúc nó chạy vội về kinh thì trận lũ quét đã san phẳng ba mươi dặm đường rồi, chẳng còn tìm thấy tung tích gì nữa cả.”
Ta nhìn sang Mạnh thị:
“Vậy còn bà ta thì sao?”
Căn phòng tĩnh lặng trong giây lát.
Mạnh thị quỳ sụp xuống đất.
Bà ta quỳ rất nhanh, nước mắt cũng tuôn rơi rất lẹ:
“Là lỗi của thiếp.”
“Năm đó thiếp không nên đưa Phất Y ra ngoài thành tạ lễ cầu an.”
“Nhưng trận lũ quét đột ngột ập xuống dữ dội quá, thiếp cũng bị đá tảng đập trúng bị thương, đến khi tỉnh lại thì xe ngựa đã lật nhào rồi.”
“Bao năm qua ngày nào thiếp cũng mơ thấy Phất Y, ngày nào cũng sống trong hối hận day dứt.”
Bà ta khóc lóc vô cùng thảm thiết.
Tạ Minh Châu cũng quỳ xuống theo:
“Tỷ tỷ, sức khỏe của mẫu thân bao năm nay vẫn luôn không tốt.”
“Người vì tìm kiếm tỷ mà khóc đến mức suýt mù cả hai mắt đấy.”
Ta lắng nghe, bỗng nhiên nhớ tới loài hồ ly ở trong rừng sâu.
Lúc bị sập bẫy kẹp trúng chân, nó cũng sẽ giả chết như thế này.
Đợi đến khi con người tiến lại gần, nó sẽ lập tức cắn đứt yết hầu đối phương.
Ta lấy từ trong ngực ra bức vẽ kia.
Bức vẽ bàn tay đã bị nước mưa làm nhòe đi đôi chút:
“Bàn tay này, ta đã ghi nhớ suốt mười năm ròng.”
“Mạnh thị, bà có dám để ta mời Quý ngỗ tác vào phủ, trước mặt bàn dân thiên hạ kiểm tra bàn tay của bà hay không?”
Tiếng khóc của Mạnh thị khựng lại.
Tạ Hoài An đột ngột quay phắt sang nhìn bà ta:
“Vết sẹo nơi hổ khẩu của nàng, rốt cuộc là chuyện như thế nào?”
Môi Mạnh thị run rẩy bần bật:
“Thiếp… hồi nhỏ nghịch ngợm nên dùng dao cắt nốt ruồi đi.”
“Chàng cũng biết đấy, nữ tử trên người có nốt ruồi hung tướng thì không may mắn.”
Tạ Hoài An nhắm nghiền mắt lại.
Người vậy mà không lập tức tin lời ta.
Ta chẳng hề thấy bất ngờ.
Ở trong rừng có một loại cạm bẫy, bên trên rải cỏ khô phẳng phiu đẹp đẽ, nhưng bên dưới toàn là chông nhọn hoắt.
Người thân, đôi khi cũng chính là một cái bẫy như thế.
Lão phu nhân bỗng cất tiếng hỏi: “Hai đứa trẻ kia, rốt cuộc là chuyện thế nào?”
Ánh mắt của mọi người lập tức đổ dồn lên người A Viên và A Mãn.
A Viên đang gặm dở một miếng bánh quế hoa.
A Mãn ngồi trên đùi ta, bàn tay nhỏ nắm chặt lấy dải tua rua trên cán dao xương của ta.
Ta ôm chặt hai đứa vào lòng:
“Con của ta.”
Tạ Minh Châu lập tức cười lạnh mỉa mai:
“Tỷ tỷ nhận cũng sảng khoái gớm nhỉ.”
“Nhưng thanh danh trăm năm của Tạ gia, không thể bị một câu ‘con của ta’ này của tỷ hủy hoại được đâu.”
“Tỷ chưa thành thân đã sinh con, nếu chuyện này truyền ra ngoài, phụ thân làm sao còn mặt mũi nào đứng vững trên triều đình nữa?”
Sắc mặt Vệ Hành sa sầm:
“Tạ nhị tiểu thư cẩn trọng lời nói.”
Tạ Minh Châu bị Cẩm y vệ trừng mắt nhìn một cái thì rụt cổ lại, nhưng trong lòng vẫn đầy vẻ ấm ức không phục.
Mạnh thị khẽ nói: “Phất Y, con tạm thời giao hai đứa trẻ cho ma ma trong phủ chăm sóc đi.”
“Đợi đến khi điều tra rõ ràng lai lịch của chúng, rồi sẽ sắp xếp chỗ ở sau.”
Bàn tay cầm dao của ta từ từ siết chặt lại:
“Ai dám đụng vào chúng nó.”
Tạ Hoài An cuối cùng cũng lên tiếng:
“Phất Y.”
“Mẫu thân con không có ý hại lũ trẻ đâu.”
“Chỉ là con vừa mới về phủ, dù sao cũng phải biết nghĩ cho đại cục chứ.”
Đại cục.
Cái từ này ta nghe không hiểu.
Ở trong rừng sâu không có cái gọi là đại cục.
Đói thì đi tìm cái ăn, lạnh thì nhóm lửa sưởi ấm, có kẻ muốn cướp con mình thì giết chết nó.
A Mãn bỗng ngẩng phắt đầu lên, nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ.
A Hôi cũng lập tức đứng bật dậy.
Ta nghe thấy trên mái ngói có tiếng động khẽ khàng.
Không phải tiếng chim.
Mà là con người.
Ngay khoảnh khắc tiếp theo, lớp giấy dán cửa sổ rách toạc, một mũi tụ tiễn xé gió bắn thẳng về phía A Viên.
Ta lập tức hất tung chiếc bàn ăn, ôm chặt hai đứa trẻ lăn nhào xuống đất.
Mũi tụ tiễn cắm phập vào cột nhà, đuôi tên vẫn còn rung lên bần bật.

