Sau lưng họ, tôi đặt chiếc trâm cài áo cũ Kỷ Minh Đình tặng dưới gối, kẹp những tờ giấy anh từng viết chú thích cho tôi vào sách, giấu chiếc nắp bút máy anh đánh rơi trong phòng sách vào ngăn kéo sâu nhất.
Thậm chí nửa đêm tôi còn lén viết tên anh.
Viết kín cả một trang rồi xé đi.
Xé xong lại muốn dán lại.
Tôi biết mình có bệnh.
Người bình thường sẽ không như vậy.
Một cô em gái bình thường sẽ không mơ thấy mình nắm tay anh trai bước vào một hôn lễ không có khách mời.
Một đứa trẻ sống nhờ bình thường cũng sẽ không vừa cảm động đến muốn khóc, vừa đau đến gần như không thở nổi khi nghe dì Kỷ cười nói:
“Giá mà Chiếu Ninh thật sự là con gái dì thì tốt biết mấy.”
Tôi từng rất cố gắng để khiến bản thân trở lại bình thường.
Tôi từng thử tránh xa Kỷ Minh Đình.
Thử bớt nhìn anh một chút.
Thử mỉm cười nói “không sao” mỗi khi anh hỏi tôi:
“Em làm sao vậy?”
Nhưng lần nào anh cũng nhận ra.
Anh hiểu tôi quá rõ.
Chỉ cần tôi không nói chuyện, anh sẽ biết tôi đang sợ.
Chỉ cần tôi bắt đầu lùi bước, anh sẽ rất tự nhiên đưa tay ra, kéo tôi trở lại bên cạnh mình.
Anh thật sự đối xử với tôi quá tốt.
Tốt đến mức sau này mỗi lần tôi phát điên, tôi đều cảm thấy mình đang làm vấy bẩn anh.
4
Lần đầu tiên tôi cầu thần khấn Phật là vì muốn Kỷ Minh Đình thích mình.
Bây giờ nghĩ lại, chuyện đó thật sự rất hoang đường.
Nhưng năm ấy tôi mười tám tuổi, vừa nhận được giấy báo trúng tuyển của một trường đại học hàng đầu trong thành phố, trong lòng lại giấu một bí mật đã mục nát đến đen kịt mà chẳng biết phải đặt nó ở đâu.
Tôi không dám nói với bạn bè.
Bởi bạn bè của tôi gần như đều quen Kỷ Minh Đình.
Càng không thể nói cho Kỷ Minh Đình biết.
Thế là một tối nọ, tôi vô tình lướt thấy một cái gọi là “đại sư” trên mạng.
Ảnh đại diện của người đó là một bông sen giả đến mức không thể giả hơn.
Phần giới thiệu ghi:
“Chuyên đoạn nghiệt duyên, chuyên cầu nhân duyên, bí pháp tổ truyền, vô cùng linh nghiệm.”
Tôi nhìn mấy chữ ấy rất lâu.
Cuối cùng ma xui quỷ khiến thế nào lại kết bạn với ông ta.
Vị đại sư đó họ Chu, sống trong một con hẻm cũ ở phía nam thành phố.
Hôm đến đó, tôi đội mũ, đeo khẩu trang, còn đeo thêm một chiếc kính râm thật lớn.
Trong phòng đốt nhang, thờ một bức tượng Thần Tài đã bong sơn.
Bên trái treo vải đỏ, bên phải đặt một bể cá vàng sống dở chết dở.
Đại sư Chu nhìn tôi một cái rồi thần thần bí bí hỏi:
“Cô bé, muốn cắt đào hoa hay cầu nhân duyên?”
Tôi ngồi đối diện ông ta, hai tay xoắn vào nhau, rất lâu sau mới nặn ra được một câu:
“Cầu nhân duyên.”
“Muốn một người… thích tôi.”
Nói xong câu đó, tôi xấu hổ đến mức chỉ muốn lập tức đứng dậy bỏ chạy.
Đại sư Chu thì đã quen với những chuyện kiểu này.
Ông ta nhắm mắt bấm ngón tay tính toán một lúc rồi mở miệng đòi sáu trăm sáu mươi sáu tệ trước.
Tôi trả tiền.
Ông ta đưa tôi một lá bùa, một sợi chỉ đỏ và một con rối nhỏ làm rất thô, bảo tôi viết tên người mình muốn cầu lên đó, sau đó mỗi đêm âm thầm niệm tên người ấy một lần.
Tôi hỏi:
“Thật sự có tác dụng sao?”
Ông ta nói:
“Có lòng thành thì sẽ linh.”
Tôi lại hỏi:
“Nếu người ấy vốn không nên thích tôi thì sao?”
Đại sư Chu mở mắt nhìn tôi.
Ông ta nói:
“Tình cảm thì làm gì có nên hay không nên.”
Vậy mà tôi lại tin.
Khoảng thời gian ấy, tôi chẳng khác nào một kẻ điên thật sự.
Mỗi đêm đúng mười hai giờ, tôi giấu con rối và lá bùa trong ngăn kéo rồi khe khẽ niệm tên Kỷ Minh Đình.
Niệm xong lại vừa khóc vừa mắng bản thân ghê tởm.
Bốn mươi chín ngày sau, đương nhiên phép thuật chẳng hề linh nghiệm.
Kỷ Minh Đình vẫn là Kỷ Minh Đình.
Dịu dàng.
Sáng sủa.
Anh không bỗng nhiên yêu tôi, cũng không bất chợt nói với tôi những lời vượt quá giới hạn.

