Bà đi ngang miếu hoang, nghe thấy sau bức tường đổ nát có đứa trẻ cứ cất tiếng gọi mẹ từng hồi. Lúc bế ta lên, hai bàn chân ta be bét máu, cổ họng cũng đã khản đặc.
Bà hỏi ta tên gì, ta mấy lần mở miệng nhưng chỉ biết khóc nấc lên không thành tiếng.
Về sau, ta theo bà vào cung, bắt đầu từ chân cung nữ thô sử thấp kém nhất nơi phòng giặt giũ.
Giặt đồ giữa mùa đông giá rét, nửa đêm đi đổ thùng vệ sinh, quỳ dưới trời tuyết, chịu đòn roi trừng phạt… Ta đều cắn răng chịu đựng vượt qua.
Bởi ta hiểu rất rõ, chết rục xương ở đèo Ô Đề mới là kết cục mà Cố gia mong muốn nhìn thấy nhất ở ta.
Nhưng ta quyết không nhận mệnh.
Ta không những phải sống, mà còn phải sống thật tốt, phải leo lên đến nơi mà bọn họ vĩnh viễn không thể cúi đầu nhìn xuống ta được nữa.
Nay Cố Minh Châu muốn dựa vào hai chữ “phúc nữ” để gả vào tông thất, ta bất quá chỉ đem cỗ xe ngựa năm xưa chặn đứng trước cửa hoàng cung mà thôi.
Sáng sớm hôm sau, trước cổng cung đã có người quỳ.
Tô thị vận y phục mộc mạc, trên tóc chỉ cài một chiếc trâm bạc. Bà quỳ dưới trời nắng chang chang, dáng người lung lay như sắp đổ.
Mười hai năm trôi qua, bà vẫn bảo dưỡng dung nhan rất khéo, nét mày khóe mắt vẫn dịu dàng như xưa. Chỉ là sự dịu dàng ấy chưa từng dành cho ta.
Bà nghẹn ngào nói với nội thị gác cổng:
“Thần phụ không dám làm kinh động thánh giá, chỉ cầu Hoàng hậu nương nương thu hồi câu nói nhục mạ kia. Minh Châu từ nhỏ lòng dạ mềm yếu, ngay cả sâu kiến cũng chẳng nỡ dẫm đạp, Cố gia trước giờ chưa từng làm việc gì trái với lương tâm. Nương nương nếu chê trách nó, thần phụ lập tức dắt nó về, từ nay không dám tơ tưởng cửa quyền quý nữa. Nhưng một câu ‘lấy mạng người nuôi dưỡng phúc trạch’ thì bảo cả nhà chúng tôi sau này biết ngẩng mặt nhìn ai?”
Mấy lời này nhanh chóng lan truyền khắp kinh thành.
Đến buổi chiều, tấu chương của phụ thân Cố Đình Chương cũng được đệ vào cung.
Ông viết rằng bản thân khổ học bao năm, nhờ ơn thánh thượng mới được bước vào chốn quan trường.
Chương 2
Ông lại giãi bày sau khi nhậm chức Lại bộ Thượng thư, chưa từng bè phái mưu lợi riêng. Tấu chương còn viết, nữ quyến chốn nội đình không nên vô cớ chịu nhục; Hoàng hậu nắm giữ phượng ấn thì càng phải cẩn trọng lời ăn tiếng nói.
Câu cuối cùng lại càng thêm vẻ hiên ngang chính khí:
“Thần không dám ôm lòng oán hận, chỉ e bá quan gia quyến từ đây lòng người hoang mang, ai nấy đều sợ một câu yêu ghét nơi cung cấm cũng đủ hủy hoại cả môn đình.”
Một vụ án bỏ rơi con gái năm xưa đã bị ông ta bẻ cong thành chuyện ta ức hiếp quần thần. Thật là một tội danh chụp xuống quá đỗi khéo léo.
3.
Hoàng hôn hôm ấy, Ngự sử đài tiếp tục đệ lên hai phong tấu sớ.
Một bức nói ta lộng quyền can thiệp vào hôn sự tông thất. Bức kia ngầm ám chỉ ta xuất thân khiêm hạ, ganh ghét đố kỵ việc dòng dõi thanh lưu kết thân cùng thân vương.
Trong Phượng Nghi cung, Thanh Hà tức giận dằn mạnh chén trà xuống bàn:
“Nương nương, bọn họ khinh người quá đáng. Cố gia làm ra cái vẻ cả nhà chịu nhục, giờ đây toàn thành đều đang kêu oan thay cho Cố Minh Châu.”
Ta ngồi dưới song cửa tỉa bớt cành khô trên chậu cảnh. Nhát kéo hạ xuống, cành khô rơi rụng bên mép bàn:
“Cứ để bọn họ nói.”
Thanh Hà đỏ hoe khóe mắt:
“Còn để mặc sao? Thái phi vừa sai người truyền lời, bảo nương nương nếu không đưa ra được chứng cứ xác thực thì hôn sự của Tĩnh vương phải bàn lại từ đầu.”
“Thế thì bàn lại.” Ta lau sạch chiếc kéo. “Cố gia nếu đã muốn dựng một cái đài chứng minh thanh bạch, bổn cung liền dựng cho bọn họ thật cao. Càng nhiều người xem thì những lời bọn họ nói hôm nay mới càng không thể nuốt lại được.”
Thanh Hà ngẩn người, rốt cuộc không khuyên can thêm nữa.
Đêm đến, hoàng đế triệu ta tới Thừa Minh điện.
Bùi Chiêu bệnh đã lâu, sắc mặt nhợt nhạt, đang tựa vào gối mềm xem tấu chương. Thấy ta bước vào, chàng gạt hai phong tấu sớ trên bàn sang một bên:
“Chữ viết thì ngay ngắn đoan chính, nhưng lời lẽ mắng chửi chẳng nhẹ chút nào.”
Ta liếc mắt nhìn qua:
“Là thần thiếp liên lụy bệ hạ phải nhìn những thứ dơ bẩn này.”
Chàng bật cười khẽ, rồi che miệng ho vài tiếng:
“Nàng muốn vạch trần Cố gia, sao không nói trước với trẫm một tiếng?”
“Bệ hạ sớm đã biết mấy năm nay thần thiếp vẫn luôn tra xét chuyện ở đèo Ô Đề.”
Bùi Chiêu im lặng chốc lát, từ cạnh gối lấy ra một tấm lệnh bài sơn son:
“Hồ sơ cũ của Hộ bộ địa phương, án văn Hình bộ và sổ ghi trạm dịch dọc đường, trẫm đã hạ lệnh niêm phong. Bản sổ bạ dời hộ tịch gốc, lộ dẫn cùng hồ sơ xe ngựa nàng cần, ngày mai đều sẽ đưa tới.”
Ta đón lấy lệnh bài, mặt sơn lạnh buốt áp vào lòng bàn tay. Chàng nhìn ta, giọng trầm xuống:
“Vấn lễ yến ba ngày sau, tông thân bá quan đều sẽ túc trực. Môn sinh của Cố Đình Chương không ít, nếu bọn họ lôi xuất thân cũ của nàng ra mà làm cớ…”
“Bệ hạ lo thần thiếp không trấn áp nổi bọn họ sao?”
“Trẫm lo nàng đau lòng.”
Ta nhất thời không đáp lại. Bùi Chiêu lại nói:
“Năm ngày năm đêm năm ấy, nàng đã một mình chống chọi vượt qua. Lần này, nàng không cần phải đứng một mình nữa.”

