rút của tôi hai nghìn tệ tiền sinh hoạt phí, chỗ thịt cừu đó có đắt đỏ đến mấy cũng chẳng bằng một bữa lẩu chúng nó đi ăn nhậu ngoài đường!
Thế nhưng trong mắt mẹ chồng, mẹ tôi ăn một miếng thịt bà ta mua là “vượt quyền, phạm thượng”. Còn gia đình chú út ăn của tôi, ở nhà của tôi, tiêu tiền của tôi thì lại là “lẽ đương nhiên như trời đất”!
Khi lòng người đã mang sẵn định kiến thì nhìn đâu cũng thấy sai trái; còn khi lòng người có thiện lương thì ở đâu cũng thấy sự bao dung.
Lúc đó, tôi vẫn chưa hoàn toàn tuyệt vọng. Tôi vẫn ngây thơ nghĩ rằng chỉ cần mẹ tôi làm mọi việc thật chu toàn, không để lộ sơ hở thì mẹ chồng sẽ không bới lông tìm vết được nữa. Nhưng mãi về sau tôi mới cay đắng nhận ra: Có những kẻ đối xử tệ bạc với bạn không phải vì bạn làm sai, mà đơn giản là vì HỌ GHÉT BẠN, nên dù bạn có thở thôi họ cũng thấy bạn sai!
Chiều tối ngày thứ bảy, giọt nước tràn ly cuối cùng đã ập đến.
Mẹ chồng bước vào bếp, nhìn thấy con dao thái thịt cũ kỹ mà bố tôi mang từ dưới quê lên, trên lưỡi dao có vài vết ố gỉ sét, bà ta liền tiện tay vứt thẳng con dao vào thùng rác.
Bố tôi nhìn thấy, vội vàng cúi xuống nhặt lên, mẹ chồng liền vung chân đá phăng con dao ra xa:
“Cái thứ sắt vụn đồng nát này mà cũng tha lên nhà tôi được à! Ông tưởng đây là cái ổ chuột tường đất dưới quê của các người đấy chắc?!”
Bố tôi chết sững tại chỗ, bàn tay lơ lửng giữa không trung, trơ trọi và nhục nhã như một đứa trẻ vừa bị tát một cái trời giáng trước mặt bàn dân thiên hạ.
Tôi đứng chết lặng ở cửa bếp, trơ mắt nhìn cảnh tượng ấy.
Sợi dây thun nhẫn nhịn chịu đựng suốt tám năm qua trong lồng ngực tôi…
“ĐỨT PHỰT!”
***
Mãi về sau này, trong rất nhiều đêm thanh vắng, hễ cứ nhắm mắt lại là bên tai tôi vẫn văng vẳng tiếng gào thét the thé của mẹ chồng đêm hôm đó.
Chói tai, cay độc và tàn nhẫn vô cùng, tựa như một lưỡi liềm rỉ sét cứa từng nhát, từng nhát một vào da thịt bố mẹ tôi:
“Cái ngữ nhà quê các người tôi còn lạ gì nữa! Nói là lên khám bệnh, thực chất là lên đây ăn chực uống chực thì có! Ở lì bảy ngày trời đuổi không chịu đi, mặt dày mày dạn vừa thôi chứ!”
“Nhìn lại cái bộ dạng nhếch nhác bẩn thỉu của các người xem, chẳng khác gì lũ ăn mày đầu đường xó chợ! Thông gia với chả thông gia, ai thèm làm thông gia với cái ngữ này! Con trai tôi rước cái thứ con gái nhà này về đúng là cái nhà họ Lưu này xúi quẩy tám đời!”
“Cút! Cút xéo hết ngay cho tôi! Đừng có ở đây làm bẩn thỉu cái nền nhà của tôi!”
Lúc tôi lao vào bếp, bố tôi đang ngồi thụp dưới đất, run rẩy nhặt lại con dao vừa bị đá văng vào góc thùng rác. Động tác của ông chậm chạp như thước phim quay chậm. Trên cán dao còn dính cọng lá rau thối, lưỡi dao lốm đốm gỉ sét, thế mà ông lại cẩn thận lấy tay áo lau đi lau lại, nâng niu như thể đó là bảo vật vô giá trên đời.
Đó là kỷ vật của ông nội để lại cho bố tôi. Năm mười lăm tuổi bố đi học nghề đầu bếp, đã dùng con dao này thái thịt suốt mười năm trời. Sau này không làm bếp nữa, về quê làm ruộng, nhưng con dao ấy bố luôn giữ bên mình, không nỡ vứt đi.
Bố mang nó từ quê lên thành phố, là vì muốn dùng chính con dao kỷ vật này để nấu cho con gái và con rể vài bữa cơm tươm tất, ngon lành trong bảy ngày ở lại.
Mẹ tôi đứng chết trân ở cửa, mặt cắt không còn một giọt máu, môi run bần bật, muốn nói điều gì đó nhưng không thốt nên lời. Hai cánh tay mẹ buông thõng bất lực, những ngón tay gầy guộc cứ liên tục cào cào vào đường chỉ quần đó là thói quen vô thức của mẹ mỗi khi rơi vào trạng thái hoảng loạn và sợ hãi tột độ.
“Đủ rồi đấy! Cút hết đi! Ngay bây giờ! Lập tức!” Mẹ chồng chống nạnh đứng sừng sững giữa bếp, nước bọt bắn tung tóe, mặt đỏ gay gắt vì kích động. Dưới chân bà ta, rau cỏ, vỏ trứng và chiếc giẻ lau bếp nằm vương vãi tung tóe khắp sàn nhà.

