Bà Châu sợ tôi hỏng mắt, lúc nào cũng dọn dẹp quanh bàn học thật gọn gàng. Bà không biết chữ, nhưng lại học được cách quan sát lúc nào tôi chau mày, lúc nào tôi cắn đuôi bút. Cứ hễ thấy tôi dừng lại, bà lại bưng vào cốc nước ấm: “Uống ngụm nước cho đầu óc nó trơn tru con ạ.”
Triệu Đại Trụ thì lóng ngóng hơn. Anh không biết giảng bài, chỉ biết ra sức chặt củi, hái rau heo làm mướn kiếm thêm tiền, rồi xếp củi gọn gàng sợ tôi đêm rét. Có lần nửa đêm tôi ra ngoài đổ nước, thấy anh đang lúi húi vá lại tấm bạt rách che mái nhà kho dưới ánh trăng, hai tay lạnh cóng đỏ ửng.
Tôi khẽ hỏi: “Anh không buồn ngủ à?”
Anh giật mình suýt giật đứt sợi dây kẽm: “Không buồn ngủ.”
“Ban ngày đi làm thuê, tối về còn dọn dẹp, sao lại không buồn ngủ được?”
Anh gãi đầu: “Cô còn thức đêm học được, tôi làm tí việc tay chân thấm tháp gì.”
Tôi nhìn anh, chẳng biết nói sao cho phải.
Một lúc sau, anh lí nhí nói thêm: “Triệu Thu, tôi biết cô không cam tâm lấy tôi. Cô yên tâm, tôi không cản đường cô đâu. Nếu cô thi đậu thật, muốn đi đâu làm gì là tùy cô.”
Lòng tôi như bị ai đó chạm khẽ vào. “Anh không sợ người ta chê cười anh sao?”
“Ai cười mặc ai.” Anh liếc tôi một cái rồi vội cúi gằm xuống: “Mẹ tôi bảo làm người phải có lương tâm. Cô bị mẹ đẻ lừa đến đây, khổ lắm rồi. Tôi không thể lấy tờ giấy kết hôn ra trói buộc cô được.”
Gió đêm rít lạnh buốt, nhưng sống mũi tôi lại cay xè: “Triệu Đại Trụ, thực ra anh không hề ngốc.”
Anh sững người, tai đỏ rần lên: “Tôi chỉ là không biết ăn nói thôi.”
“Không biết ăn nói còn hơn là bụng dạ xấu xa.”
Anh toe toét cười, nhưng lại tém lại ngay. Nụ cười thật thà đến mức làm người ta xót xa.
Quá trình ôn thi không hề dễ dàng.
Tôi đã rời xa sách vở quá lâu, nhiều kiến thức như bị phủ lớp bụi dày. Môn Toán thì đỡ, nhưng Lý Hóa cứ hay làm tôi tắc tịt.
Lần nào cô Diệp sang giảng bài cũng đến rát cả cổ họng. Cô bảo: “Chị không thể chỉ học vẹt, phải biết tư duy.”
Tôi toát mồ hôi hột: “Nhưng tôi không có đủ thời gian.”
“Càng rối càng hỏng việc.” Cô đặt bút xuống: “Thi đại học không chỉ thi xem ai thông minh, mà còn thi bản lĩnh. Chị phải thật vững tâm.”
Vững tâm. Nói thì dễ. Nhưng cứ nhắm mắt lại là tôi lại thấy nụ cười khẩy của mẹ tôi. Bà bảo, không có hộ khẩu, tôi đi đâu cũng không lọt. Tôi sợ mình dốc hết sức lực, cuối cùng lại bị chặn đứng bởi một tờ giấy chứng nhận.
Bà Châu nhìn thấu tâm sự của tôi.
Một tối nọ, ngồi khâu đế giày bên cạnh tôi, bà bỗng hỏi: “Hồi bé, mẹ ruột con có bao giờ thương con không?”
Cây bút trên tay tôi khựng lại: “Chắc là cũng từng thương.”
Nhưng tôi nghĩ mãi, nghĩ mãi, chỉ nhớ đến cảnh em trai sốt cao, bà ôm nó khóc lóc ỉ ôi. Nhớ cảnh tôi cầm bằng khen học sinh giỏi về, bà chỉ hỏi cái bằng này có đổi được cân gạo nào không.
Bà Châu không truy vấn nữa, chỉ cặm cụi luồn kim: “Con người không chọn được nơi sinh ra. Nhưng sau này thân với ai, trong lòng phải tự có cái cân mà đo.”
Tôi lí nhí: “Có lúc con hận bà ấy lắm.”
“Hận cũng là lẽ thường.” Bà lật mặt đế giày lại: “Nhưng đừng để cái hận nó nhốt chặt mình. Con thi thoát khỏi cái nơi này, không phải để chọc tức bà ấy, mà là để sống cho ra con người.”
Tôi gật đầu, nhưng lồng ngực vẫn bức bối.
Đầu tháng Tư, cô giáo Diệp báo tin: “Ngày đăng ký chốt rồi, cuối tháng phải nộp hồ sơ.”
Lòng bàn tay tôi ướt sũng mồ hôi: “Còn giấy chuyển khẩu nhà đẻ thì sao?”
Cô Diệp nói: “Em đã nhờ thầy hiệu trưởng cũ ở trường cấp ba trên thị trấn hỏi thăm rồi. Hồ sơ tốt nghiệp của chị vẫn lưu ở đó. Nếu lấy được giấy chứng nhận tốt nghiệp, cộng thêm ủy ban xã bên này làm giấy bảo lãnh hạnh kiểm, trên phòng giáo dục có thể sẽ linh động giải quyết cho chị.”
Bà Châu hỏi ngay: “Thầy hiệu trưởng ấy ở đâu?”
“Trường cấp ba trên thị trấn.”
Đại Trụ nói liền: “Để tôi đi.”
Cô Diệp nhìn anh: “Chưa chắc người ta đã chịu giao hồ sơ cho anh đâu. Tốt nhất là Triệu Thu tự đi.”
Tôi sửng sốt. Từ ngày về làm dâu nhà họ Triệu, tôi chưa từng bước chân ra khỏi cái làng này.
Bà Châu không hề do dự: “Đi.”
Tôi nhìn bà: “Người làng sẽ lại đàm tiếu.”
Bà Châu cười: “Bọn họ rảnh rỗi buôn chuyện suốt ngày, có thấy nhà ai giàu lên nhờ mồm mép đâu.”
Đại Trụ bảo: “Tôi đưa cô đi.”
Tôi định từ chối, nhưng nghĩ đoạn đường xa xôi, đành gật đầu.
Trời chưa sáng rõ, tôi và Đại Trụ đã lên đường. Anh mượn được một chiếc xe máy cà tàng, yên xe rách bươm, bô nổ lạch phạch.
Anh dặn: “Cô ngồi sau, đường xóc lắm, bám chắc vào.”
Tôi ngồi lên xe nhưng chẳng biết bám vào đâu. Lưng anh cứng đờ: “Bám vào áo tôi là được.”
Đường đồi núi ổ gà ổ voi, xe giật nảy liên hồi. Tôi đành túm chặt lấy vạt áo sau lưng anh. Áo anh giặt đến sờn màu, nhưng rất sạch sẽ, có mùi xà phòng quyện với mùi cỏ khô.
Suốt quãng đường, chúng tôi ít nói chuyện. Đến thị trấn thì mặt trời đã lên cao.
Cổng trường cấp ba loang lổ vết sơn, trên sân trường có học sinh đang chạy bộ. Tôi đứng ngoài cổng, nước mắt chực trào. Nơi này không phải ngôi trường cũ của tôi, nhưng giống như mọi ngôi trường khác, có mùi bụi phấn, có tiếng đọc bài, có nơi mà trong giấc mơ tôi khao khát được trở về nhất.

