Nó nghẹn ngào không thốt nên lời. Đúng lúc ấy Hạnh Nhi dẫn Tôn lang trung về tới nơi. Ta để lang trung xem xét tay nó cẩn thận, xác nhận chỉ là trầy da ngoài thịt, tiễn khách ra về rồi mới ngồi lại vào bàn.

Ba đứa trẻ ngồi sát rạt vào nhau, chẳng đứa nào dám nhìn thẳng vào mắt ta trước.

Ta ngẫm nghĩ một chốc, chủ động mở lời:

“Trước kia ta làm bánh ngọt, không dùng loại bếp lò củi lửa này. Có một chiếc hòm sắt lớn, chỉ cần ấn một nút là nó tự tỏa nhiệt.”

Tiểu Mãn quên cả khóc: “Đốt bằng thứ gì thế?”

“Bằng điện.”

“Điếm nào cơ?” (Tiệm nào cơ?)

“Chuyện này nói ra dài dòng lắm. Tóm lại, ta cũng chẳng phải là nàng Xuân Nương trước kia nữa rồi.”

Trường An trố mắt kinh ngạc.

Bàn tay đang siết chặt góc áo của Hạnh Nhi từ từ buông lỏng ra.

Đêm hôm đó, chúng ta chẳng hấp nổi một xửng bánh nào, bù lại đem hết lai lịch bốn người ra giãi bày đại khái.

Trường An kiếp trước tên gọi Trình Thủ Vị, đứng chầu chực nơi ngự thiện phòng suốt bốn mươi năm ròng, sáu mươi sáu tuổi ngã quỵ chết ngay trước bếp lò. Lão vốn định gom đủ bạc dưỡng già rồi xin xuất cung, ngặt nỗi cung yến hết tiệc này đến tiệc khác chẳng khi nào ngơi.

Hạnh Nhi tên gọi Hứa Kiến Vi, là một vị nữ y. Thuở nhỏ gia cảnh bần hàn, mẫu thân lâm trọng bệnh không đợi nổi lang trung tới cứu mạng. Sau khi hành y cứu người, nàng lúc nào cũng nơm nớp sợ không kịp cứu chữa, nơi nào có tiếng kêu cầu là dốc lòng tìm tới, sau cùng bản thân ngã bệnh liệt giường không dậy nổi, vậy mà vẫn gượng bảo người ta mang hòm thuốc tới tận mép giường.

Tiểu Mãn tên gọi Lục Cửu Chương, cả một đời cặm cụi tính toán sổ sách cho thương hiệu, tính tới tận năm bảy mươi mốt tuổi. Đông gia tậu tới hơn mười tòa trạch viện nguy nga, lão vẫn co quắp ngủ lại phía sau phòng thu chi.

“Lục gia thương hiệu không phải của nhà con sao?” Ta hỏi.

Nó phẫn uất đập đùi cái bét: “Ta chỉ tình cờ mang cùng họ với bọn họ mà thôi!”

Hạnh Nhi không nhịn được bật cười thành tiếng, rồi lại đưa tay quẹt giọt lệ nơi khóe mi.

Chúng nó sinh ra ở Thẩm gia đã mang theo ký ức tiền kiếp, từ sớm đã nhận ra lai lịch của nhau. Ngày phụ thân còn sống, dẫu sao vẫn còn miếng cơm lót dạ, ba người liền ước hẹn giấu nhẹm bản lĩnh tài nghệ, an phận lớn khôn, kiếp này thề quyết không làm kiếp trâu ngựa lao lực nữa.

Nào ngờ, người tính không bằng trời tính.

Sau cùng, ba đứa đồng loạt trừng mắt nhìn ta.

Ta giơ hai tay lên hàng: “Trách ta tới chậm trễ.”

Trường An lại khẽ lắc đầu.

Nó dùng bàn tay không bị thương, khẽ níu lấy cổ tay áo ta:

“Không muộn.”

Chúng ta chẳng ai giải thích nổi vì cớ gì chuyện kỳ quặc này lại xảy ra trên cõi đời.

Lúc bấc đèn sắp tàn lụi, ta giục chúng đi ngủ.

Tiểu Mãn dường như quyến luyến đêm nay khôn nguôi, cứ bước một bước lại ngoái đầu nhìn một bận. Ta bế xốc nó lên, người nó thoạt đầu cứng đờ lại, sau đó từ từ tựa đầu vào vai ta.

Nhẹ bẫng tựa như một túi lương thực chưa đổ đầy.

“Ta bảy mươi mốt tuổi rồi đấy…” Nó lầm bầm.

“Kiếp này mới lên ba.”

Nó nín thinh không cãi nữa.

Bàn tay bé xíu lại lén lút túm chặt lấy vạt áo trước ngực ta.

8

Sau khi ta khỏi bệnh, trong nhà treo thêm hai tấm biển gỗ nhỏ.

Một tấm đề hai chữ: “Nghỉ Ngơi”, treo ngay trước cửa gian bếp.

Một tấm vẽ bốn gương mặt, treo cạnh chiếc bàn tính sổ. Hễ ai cảm thấy người nào lại lao lực quá độ, liền đem chiếc kẹp gỗ nhỏ của người đó kẹp lên mặt họ.

Ngày đầu tiên, cả bốn chiếc kẹp đều gắn kín trên mặt ta.

“Ai kẹp tới hai cái thế này?” Ta hỏi.

Tiểu Mãn giấu hai tay ra sau lưng: “Phạt thêm một bận cho nhớ lâu.”

Tay Trường An dưỡng vài ngày, đợi tới khi đóng vảy ta mới chuẩn cho nó động vào bột gạo trở lại.

Lần này nó ngoan ngoãn hơn nhiều, chỉ sau bữa cơm mới nặn hai con thú nhỏ, nặn xong là tự giác đi rửa tay sạch sẽ. Ta khen nó biết ngơi nghỉ, khóe miệng nó khẽ nhếch lên, miệng thì khăng khăng bảo tại mình buồn ngủ mà thôi.

Mối làm ăn đưa cơm có nhóm thím Lê san sẻ gánh vác, ta rốt cuộc cũng dôi ra được nửa ngày rảnh rỗi, dẫn ba đứa trẻ ra bờ sông dạo chơi.

Trên trấn người ta đang dựng rạp hoa rực rỡ, ít ngày nữa là tới hội mở đường sông thông thương, thuyền buôn bốn phương tấp nập qua lại, bến sông ắt sẽ náo nhiệt suốt mấy ngày liền.

Lương thúc thấy ta, liền vẫy tay gọi lại:

“Thương hội đang tìm người cung ứng cơm trưa cho ba ngày mở hội thông thương, mỗi ngày ba trăm suất ăn. Ngươi có gan dạ nhận mối này chăng?”

Ta còn chưa kịp mở lời, Tiểu Mãn đã hít một hơi lạnh buốt.

Ta nắm chặt bàn tay nhỏ bé của nó:

“Cháu phải về bàn tính lại đã, chưa dám nhận lời ngay với thúc.”

Lương thúc lại gật gù tán thành: “Tính toán cho kỹ càng trước đã, chớ có cậy mạnh.”

Người đứng ra tìm mối nấu cơm là vị tân quản sự của thương hội. Mọi năm việc này đều giao trọn cho Thuận Phong Lâu, ngặt nỗi năm ngoái họ giao chậm trễ, cơm nguội canh nguội ngắt, phu phen bên dưới ta thán râm ran mấy bận, lần này thương hội mới quyết định cho vài nhà cùng thử sức một phen.

Trên đường về, Trường An hỏi ta: “Người muốn nhận sao?”

“Muốn chứ. Song không phải để bốn người nhà ta tự làm.”

Ta bèn gọi thím Lê, lão Chu, Ngô tẩu, cùng Mã tẩu – người ngày thường hay gom rau phụ giúp – sang ngồi chung một sân.

Mọi người nghe xong, thoạt đầu mừng rỡ khôn xiết, song sau đó ai nấy đều lặng thinh.

Ba trăm miệng ăn, khác xa với việc mỗi sáng bán vài chục miếng bánh. Nồi nào cơm sống, chuyến xe nào trễ nải, là cả dây chuyền phía sau rối tung rối mù theo ngay.

Ta trải tờ giấy ra bàn, ghi chép tường tận từng nhà có thể làm được bao nhiêu phần, nhà ai có sẵn bếp, nhà ai có sẵn xửng, con cái nhà ai cần đưa đón, ngày nào nhà ai kẹt việc không dứt ra được.

Tiểu Mãn ngồi bên cạnh thẳng thớm, nín nhịn hồi lâu.

Ta đưa tờ giấy kê khai định lượng nguyên liệu ta đã tính sẵn cho nó:

“Con giúp ta soi lỗi trong vòng một khắc. Chỗ nào thiếu sót, ta sẽ cùng lão Chu tính toán lại.”

Nó lập tức cầm mẩu than củi lên, dáng vẻ trịnh trọng hệt như đón nhận quan ấn triều đình.

Trường An bảo, cơm thết đãi ngày mở bến không nên làm toàn điểm tâm tinh xảo, làm bánh hoa xốp mặn ăn kèm đồ hầm chắc bụng và vững vàng hơn nhiều. Ta nghe theo, bảo mỗi nhà cứ đem món sở trường quen tay của mình ra làm thử, không gượng ép phải rập khuôn theo một mối.

Hạnh Nhi đề xuất chia canh nóng vào từng thùng nhỏ mà gánh đi, đỡ phải bưng thùng lớn chen lấn giữa biển người xô đẩy.

Ngô tẩu đẩy thử xe, cảm thấy phương kế này rất khả thi.

Bàn tới chuyện phân chia tiền bạc, trong sân bỗng chốc im ắng đến lạ thường.

Ta bày rõ mỗi nhà cung ứng bao nhiêu phần, nhận về bao nhiêu tiền, rồi liệt kê rành mạch chi phí củi lửa, cước xe, người rửa bát và phu khuân vác thuê ngoài.

“Số còn lại là tiền công ta đứng ra lo liệu, gánh vác trách nhiệm. Ai cảm thấy không thỏa đáng, xin cứ nói thẳng ngay hôm nay.”

Thím Lê hỏi: “Ngộ nhỡ xảy ra sơ suất, ngươi gánh hết trên đầu sao?”

“Phải xem sơ suất từ đâu ra. Nhà nào làm hỏng phần của nhà nấy, không thể bắt người khác gánh oan. Nếu do ta sắp xếp sai sót, phần đền bù thuộc về ta, ta chịu. Chúng ta đều lập văn tự rành rành.”

Lão Chu giắt ống điếu vào thắt lưng:

“Vậy thì thử sức xem sao! Lời khó nghe nói trước mất lòng trước đặng lòng sau, ta dám theo ngươi làm chuyến này.”

Trước khi tan buổi, mọi người căn cứ theo phần việc mình đảm nhận mà gom góp tiền vốn làm thử một phen.

Tiểu Mãn nhìn đống tiền đồng trên bàn, không còn theo thói quen vươn tay che chở ôm lấy như trước.

Nó cúi đầu, trên mặt giấy nắn nót vạch bốn đường ranh giới, phân định rạch ròi giữa tiền công quỹ và tiền riêng của gia đình.

Tiễn mọi người ra về, ta thấy Hạnh Nhi đang đứng ngắm nghía chiếc diều giấy mua bên bờ sông.

Đó là một cánh diều hình chim én, mép giấy mỏng manh, suốt cả chặng đường con bé chẳng nỡ mở tung ra xem.

“Ngày mai thử nấu cơm, ngày kia ta dẫn con đi thả diều,” ta bảo.

Con bé ngước nhìn dãy nồi niêu trong sân:

“Thực sự rảnh rỗi ư?”

“Ghi sẵn lên bảng gỗ rồi.”

Nó thoăn thoắt chạy đi lấy mẩu than củi, nắn nót viết chữ “Ngày Kia” thật to.

Tiểu Mãn vẽ thêm một vòng tròn bên dưới.

Trường An ngẫm nghĩ một chốc, lại bồi thêm một vòng nữa.

9

Hôm thử cơm, Đỗ chưởng quầy dẫn theo bốn tên gia đinh tề chỉnh đứng đợi dưới mái hiên thương hội.

Thuận Phong Lâu bày ra mì sợi thịt băm thượng hạng, gà bọc lá sen thơm phức, cùng điểm tâm tỉa hoa lộng lẫy. Mở nắp vung ra, hương thơm ngào ngạt xộc thẳng vào mũi người ta.

Phía chúng ta chỉ vỏn vẹn có bánh hoa xốp mặn, củ cải hầm đậu phụ, bánh nướng dày cùi cùng một nồi canh nóng lớn.

Diện mạo quả thực thua kém họ không chỉ một bậc.

Đỗ chưởng quầy cười khẩy: “Khai thông đường sông là đại sự của bến bãi, ngươi đem thứ thô lậu này ra thết đãi khách khứa sao?”

Ta không buồn đôi co với gã, quay sang hỏi vị quản sự: “Lần này là cung ứng cho thủy thủ thuyền buôn cùng phu phen bốc vác lâm thời, phải chăng?”