Một giờ bốn mươi phút sáng.
Tôi lưu ảnh lại, rồi lại nhìn Niên Cao một cái.
Nó ngồi xổm trên bậc cửa ban công, lông toàn thân dựng ngược lên.
“Trong cái thùng đó có thứ gì đó. Không phải thứ bình thường.”
“Thứ gì?”
Niên Cao im lặng một lúc.
“Thứ có mùi giống máu.”
Tôi không gọi cảnh sát nữa.
Ngày hôm sau là thứ bảy, tôi xin nghỉ không đến công ty.
Mười giờ sáng, tôi đưa Niên Cao đến bệnh viện thú cưng.
Không phải để khám bệnh cho nó.
Tôi muốn xác nhận một chuyện.
Tôi ôm Niên Cao ngồi ở khu chờ, bên cạnh có một con chó Poodle cứ sủa mãi.
Tôi thử đặt tay lên đầu con Poodle.
Không có gì cả.
Không có âm thanh, không có ý thức.
Chỉ có Niên Cao.
Tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng của Niên Cao.
Bác sĩ thú y gọi số, tôi bế Niên Cao đi vào.
Bác sĩ kiểm tra theo quy trình, nói mèo rất khỏe mạnh.
Tôi hỏi anh ta: “Khứu giác của mèo thật sự có thể ngửi được mùi ở rất xa sao?”
Bác sĩ đẩy gọng kính: “Độ nhạy khứu giác của mèo là gấp mười bốn lần con người, chúng có thể phân biệt những khác biệt mùi rất nhỏ. Những việc chó nghiệp vụ làm được, về lý thuyết mèo cũng có thể cảm nhận được, chỉ là mèo không hợp tác huấn luyện thôi.”
Tôi cảm ơn anh ta, ôm Niên Cao về nhà.
Ở cổng khu chung cư, tôi gặp dì Giang của ban quản lý.
Dì Giang kéo tôi lại tám chuyện: “Tiểu Tô à, cái người họ Chu ở lầu sáu đối diện nhà cháu, dạo này cháu có thấy gì không đúng không?”
Tim tôi khẽ siết lại: “Sao ạ?”
“Hôm qua có người đến tìm hắn. Nhìn không giống bạn bình thường, lén lén lút lút, còn hỏi tôi camera hành lang có hỏng không.”
“Camera hỏng rồi ạ?”
Dì Giang thở dài: “Camera hành lang ở tầng lầu sáu đó, hai tháng trước đã hỏng rồi, báo sửa mãi mà không ai đến sửa.”
Hai tháng trước.
Vừa đúng lúc Chu tiên sinh chuyển đến.
Tôi về nhà, sắp xếp lại thông tin này cùng với những bức ảnh chụp trước đó, viết một email, gửi vào hộp thư tố giác của cục công an thành phố.
Trong email tôi không nhắc đến mèo.
Chỉ viết những sự thật khách quan như hành vi bất thường của hàng xóm, vận chuyển vật khả nghi vào lúc nửa đêm, camera hành lang đúng lúc bị hỏng, vân vân.
Gửi xong email, tôi dựa vào ghế ngẩn người.
Niên Cao nhảy lên bàn, nghiêng đầu nhìn tôi.
“Cô làm đúng rồi.”
“Nếu lại không ai để ý thì sao?”
Niên Cao liếm liếm móng vuốt: “Vậy thì nghĩ cách khác.”
Con mèo này đôi khi nói chuyện còn đáng tin hơn cả con người.
Ba giờ chiều, có người gõ cửa.
Tôi mở cửa, nhìn thấy Cố Ngôn Chu.
Hôm nay anh ta không mặc thường phục, mà mặc một chiếc áo khoác mỏng màu đen, bên trong là áo sơ mi màu lam đậm.
Trông chẳng giống đến để làm án chút nào.
“Lại là anh?” Tôi dựa vào khung cửa.
Biểu cảm trên mặt anh ta rất vi diệu, như là có hơi gượng gạo.
“Cô gửi email lên cục thành phố rồi?”
“Gửi rồi.”
“Cục thành phố chuyển xuống đội chúng tôi rồi.”
Tôi suýt bật cười: “Vòng một vòng rồi lại quay về tay anh à?”
Anh ta không trả lời câu đó của tôi, chỉ rút điện thoại ra: “Cô nói đã chụp được ảnh?”
Tôi đưa những tấm ảnh trong điện thoại cho anh ta xem.
Khung cảnh bãi đỗ xe mờ mờ, chiếc xe van màu đen, một chiếc vali cỡ lớn.
Anh ta phóng to xem rất lâu, sắc mặt dần dần thay đổi.
“Biển số xe này…” Anh ta lẩm bẩm một câu, rồi nhìn tôi, “Bức ảnh này chụp lúc nào?”
“Khoảng một giờ bốn mươi sáng hôm kia.”
Anh ta nhanh chóng gọi một cuộc điện thoại, quay người đi ra hành lang, hạ giọng nói một tràng mà tôi không nghe rõ.
Cúp máy xong, anh ta quay lại, vẻ mặt rất nghiêm túc.
“Vài ngày tới cô đừng có bất kỳ tiếp xúc nào với người ở đối diện.”
“Sao vậy?”
“Biển số này đã từng xuất hiện trong một vụ án khác.”
Trái tim tôi hụt mất một nhịp.
Niên Cao thò đầu từ bên chân tôi ra, kêu với Cố Ngôn Chu một tiếng.
Cố Ngôn Chu cúi xuống nhìn nó một cái.

