“Nịnh Nịnh, từ nay về sau, em theo anh nhé.”

“Anh đi đâu, em sẽ đi đó.”

“Sẽ không bao giờ bỏ em một mình ở nhà nữa.”

Tôi lơ lửng trên đỉnh đầu anh, có một khoảnh khắc, tôi suýt thì tin thật.

Nhưng chỉ một khoảnh khắc thôi.

Bởi vì điện thoại trong túi anh rung lên.

Anh không để ý.

Nhưng tôi nhìn thấy dòng chữ trên màn hình.

Lâm Hi: “Sư ca, buổi lễ kết thúc rồi phải không? Em đợi anh ở bãi đỗ xe.”

Cô ta vẫn đến.

Chỉ là không bước vào mà thôi.

Thẩm Yến Châu đặt hộp tro cốt vào ghế sau xe, cài dây an toàn cẩn thận, rồi mới nổ máy.

Anh không ra bãi đỗ xe tìm Lâm Hi.

Nhưng khi anh lái xe ra khỏi cổng nhà tang lễ, một chiếc xe sedan màu trắng từ bãi đỗ xe chạy ra, bám theo phía sau không xa không gần.

Tôi ngoái lại nhìn chiếc xe đó.

Lâm Hi ngồi ở ghế lái, qua lớp kính xe, tôi không nhìn rõ biểu cảm của cô ta, nhưng có thể thấy khóe môi cô ta.

Độ cong nhếch lên, nhè nhẹ, bị vô lăng che khuất quá nửa.

Đó không phải là độ cong của sự đau buồn.

Thẩm Yến Châu, người phụ nữ phía sau lưng anh, đang mỉm cười.

Hộp tro cốt được Thẩm Yến Châu mang về nhà, đặt trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ.

Anh cố ý dọn trống một khoảng, trải một tấm vải nhung sạch sẽ, đặt ngay ngắn chiếc hộp lên trên.

Bên cạnh đặt một tấm ảnh của tôi, và đôi giày múa ballet lúc tôi 17 tuổi.

Dì Triệu nhìn thấy không ổn, nhỏ giọng khuyên nên đặt ở phòng thờ hoặc một phòng riêng biệt.

Thẩm Yến Châu đáp: “Lúc còn sống cô ấy đã ở trong phòng ngủ này 10 năm, đây là phòng của cô ấy.”

Dì Triệu không dám nói thêm.

Tối hôm đó, Thẩm Yến Châu ngủ trên chiếc giường của chúng tôi.

Đây là lần đầu tiên trong một tuần qua anh nằm ngủ trên giường.

Trước đó anh hoặc ngồi ghế trong phòng làm việc cả đêm, hoặc ngẩn ngơ trong xe đến sáng.

Anh nằm bên trái giường, bên phải để trống, chăn gối trải phẳng phiu.

Anh nghiêng người sang bên phải, đặt tay lên lớp chăn trống không, như đang ôm lấy một người.

Tôi trôi lơ lửng trên trần nhà, cúi xuống nhìn anh.

Anh nhắm mắt, chân mày nhíu chặt, không biết có đang mơ hay không.

Hai giờ sáng, anh đột ngột bật dậy, thở dốc dữ dội, vươn tay quờ quạng bên cạnh.

Chạm vào chỉ là lớp chăn trống không và mặt ga giường lạnh lẽo.

Anh ngơ ngẩn ngồi đó vài giây, rồi đứng dậy đi vào phòng vệ sinh, bật đèn, nhìn chính mình trong gương một lúc.

Người trong gương giống hệt một bóng ma.

Hốc mắt trũng sâu, gò má nhô cao, môi không chút huyết sắc.

Anh vặn vòi nước rửa mặt, nước từ cằm nhỏ xuống, từng giọt từng giọt rơi xuống bồn rửa mặt.

Trở lại giường, anh cầm điện thoại lên, mở đến trang cá nhân WeChat của tôi.

Ảnh đại diện của tôi là một bông hoa trà trắng, là bức ảnh tôi tự chụp vào một mùa xuân, khi Thẩm Yến Châu đẩy xe lăn đưa tôi đi công viên.

Anh bấm vào vòng bạn bè của tôi.

Dòng trạng thái cuối cùng được đăng từ ba tháng trước, là một bức ảnh hoàng hôn chụp qua khung cửa sổ, kèm theo dòng chữ: “Hoàng hôn hôm nay đẹp quá.”

Không có câu thứ hai.

Anh đặt điện thoại xuống, nằm lại xuống giường, lần này, quay mặt về phía hộp tro cốt trên nóc tủ quần áo.

“Nịnh Nịnh, ngủ ngon.”

Tôi trôi xuống, nằm ở nửa giường bên phải, mặt đối mặt với anh.

“Ngủ ngon, A Châu.”

Khoảng cách chưa đến nửa mét, hơi thở của anh phả vào không khí, còn lời của tôi tan biến vào hư vô.

Từ đó về sau, mỗi tối về nhà, Thẩm Yến Châu đều bước đến trước tủ quần áo, nói với hộp tro cốt của tôi: “Anh về rồi.”

Rồi thay quần áo, ăn cơm, tắm rửa, nằm lên giường, lại nói một câu: “Ngủ ngon.”

Những việc này, lúc tôi còn sống, bao lâu rồi anh không làm?

Tôi không còn nhớ nữa.

Thẩm Yến Châu trở lại bệnh viện làm việc vào ngày thứ ba sau tang lễ.

Khi anh mặc áo blouse trắng bước vào phòng làm việc, bầu không khí trong khoa thay đổi một cách tinh tế.