Thai kỳ những tháng đầu phản ứng rất nặng, ngửi mùi dầu mỡ là buồn nôn. Dịp tháng Chạp tôi vẫn phải đi làm, mỗi ngày ngồi tàu điện ngầm hơn một tiếng, tan làm về đến nhà chỉ muốn nằm ườn ra.

Mẹ biết tôi mệt mỏi nên cố ý dặn: “Năm nay đừng bày vẽ nữa con, nhà ai cũng đừng gửi gì hết.”

Tôi ngoan ngoãn vâng dạ.

Thế nhưng đến ngày 18 tháng Chạp, lướt điện thoại thấy cửa hàng mua đồ Tết mọi năm đang có khuyến mãi, tôi lại nhớ đến nhà cô.

Tôi nằm trên giường lướt chọn mất nửa tiếng.

Chồng hỏi: “Em làm gì đấy?”

“Mua đồ Tết cho nhà cô.”

Anh nhíu mày: “Chẳng phải em bảo năm nay không gửi nữa sao?”

“Đặt trên mạng, đâu cần tự bưng bê gói ghém gì đâu anh.”

“Em mua cho bố mẹ mình chưa?”

“Bố mẹ em thì lúc về quê em xách về sau.”

Chồng tôi không nói gì thêm, lát sau đi rót cho tôi cốc nước ấm.

Năm đó tôi cho cửa hàng gửi trực tiếp, đỡ mất công tự đóng gói.

Tổng cộng hết hơn 600 tệ (khoảng hơn 2 triệu VNĐ).

Cô nhận được đồ, vẫn y như cũ, không một lời phản hồi.

Ngược lại, em họ tôi đăng một cái story lên mạng.

Trong hình là một bàn đầy ắp đồ ăn vặt và thịt lạp, kèm dòng trạng thái: “Quà Tết đang lục tục hạ cánh.”

Tôi bấm vào xem một lúc lâu.

Không hề nhắc đến tôi.

Đương nhiên, tôi không ép con bé phải đăng lên mạng cảm ơn tôi.

Nhưng khoảnh khắc đó tôi đột nhiên nhận ra, trong mắt bọn họ, thùng đồ này dường như không phải do tôi bỏ tiền ra mua, cũng không phải do tôi nhớ đến họ mà gửi.

Nó chỉ là một thùng đồ tự động xuất hiện vào dịp giáp Tết mỗi năm.

Giống như lốc lịch do ban quản lý tòa nhà phát.

Giống như câu đối ngân hàng tặng.

Tới thì cứ để ở nhà.

Không tới mới nhớ ra để hỏi.

Sau khi sinh con, cuộc sống bỗng chốc bận rộn hơn rất nhiều.

Tết năm thứ năm, ngày tôi đi làm, tối về chăm con. Đứa nhỏ lúc đó hơn 1 tuổi, mới chập chững biết đi, người lớn không thể rời mắt khỏi nó giây nào.

Tôi nhớ rất rõ, đêm 16 tháng Chạp năm ấy, con tôi sốt lúc nửa đêm.

Hai vợ chồng thay nhau bế, thức trắng cả đêm.

Hơn 6 giờ sáng hôm sau, mẹ tôi gọi điện hỏi thăm cháu thế nào.

Nói đi nói lại, mẹ lại nhắc: “Đồ Tết năm nay nhà cô gửi chưa con?”

Đầu óc tôi lúc đó cứ mụ mị đi.

“Vẫn chưa ạ.”

“Vậy con tranh thủ làm đi, kẻo qua Tết lại quên.”

Tôi buột miệng: “Tại sao cứ phải là con gửi?”

Mẹ tôi sững người lại. “Thì năm nào con chẳng gửi?”

“Năm nào cũng gửi thì có nghĩa là bắt buộc phải gửi mãi ạ?”

“Ý mẹ không phải vậy,” giọng mẹ dịu xuống, “Chỉ là cô vẫn luôn nhớ đến con, hồi nhỏ cô cũng hay bế con.”

Tôi ôm đứa con đang sốt hầm hập trong tay, nhìn đống miếng dán hạ sốt và nhiệt kế trên đầu giường, tự nhiên thấy bực bội.

“Mẹ ơi, con cúp máy đã, cháu lại tỉnh rồi.”

Tắt điện thoại xong, trong lòng tôi cứ nghẹn ứ suốt cả buổi sáng.

Nhưng buổi chiều lúc con ngủ say, tôi vẫn cầm điện thoại lên đặt hàng.

Thậm chí vì không có thời gian lựa, tôi cứ bấm vào lịch sử mua hàng năm ngoái rồi đặt y hệt lại một lần.

726 tệ.

Tối hôm đó chồng tôi thấy lịch sử thanh toán, liền hỏi: “Em vẫn mua à?”

“Vâng.”

“Thế cô có mua gì cho con mình bao giờ chưa?”

Tôi lặng thinh.

Chồng cũng không hỏi tiếp.

Thực ra cô có đến thăm một lần. Hồi con tôi đầy tháng, cô dượng không đến vì bảo tiệm bận, nhờ bố tôi mang hộ một phong bao lì xì 500 tệ.

Sau đó con thôi nôi, cô không có chút biểu hiện gì.

Hai tuổi, ba tuổi, cũng không.

Tôi chưa bao giờ nghĩ bề trên thì bắt buộc phải tiêu tiền cho trẻ con. Nhưng câu nói của chồng lần đầu tiên khiến tôi nghiêm túc tính toán lại sự qua lại giữa đôi bên những năm qua.

Tôi kết hôn, cô mừng 2.000 tệ.

Con gái cô, tức em họ tôi kết hôn, vợ chồng tôi đi phong bì 3.000 tệ.

Dượng nằm viện, tôi chuyển khoản biếu 1.000 tệ.

Đúng dịp mừng thọ 60 tuổi của cô, tôi mua tặng một chiếc khăn quàng cổ hơn 1.000 tệ.