Anh cắm mặt vào tra cứu tài liệu, cuối cùng phát hiện ra vấn đề nằm ở tờ Đơn xin hoàn hàng. Ban đầu khách hàng xin trả lại 120 thùng, nhưng trước khi chất lên xe, họ phát hiện 2 thùng bị rách bao bì, nên đã tạm giữ lại kho khách để đóng gói lại. Số lượng thực tế tài xế chở đi đúng là 118 thùng. Vấn đề là Đơn xin hoàn hàng của khách không cập nhật số liệu mới, và kho bên tôi cũng không nhận được thông báo bổ sung.

Hàng hóa không hề bị mất. Chỉ là hai bên sử dụng hai phiên bản chứng từ khác nhau.

Sau khi giải quyết xong, Trưởng kho nói với Châu Minh Viễn:

“Anh xử lý việc này rất tốt. Nhưng lần sau gặp chuyện thế này thì phải báo cho tôi biết sớm, đừng có một mình tự điều tra đến cùng như thế.”

Tối hôm đó, anh không vội tan làm mà ngồi nán lại, ghi chép toàn bộ sự việc thành một bản báo cáo ngắn gọn. Sáng hôm sau, anh nộp bản báo cáo cho Trưởng kho, đề xuất rằng Đơn xin hoàn hàng bắt buộc phải được chốt lần cuối trước khi hàng lên xe, và hai bên phải ký đối chiếu số lượng thực tế. Trưởng kho xem xong, quyết định đưa luôn bước này vào quy trình làm việc chuẩn của kho. Về sau, những lỗi tương tự không bao giờ xảy ra nữa.

Sự việc này càng làm tôi thêm chắc chắn rằng Châu Minh Viễn rất hợp với công việc này. Nhưng tôi không vì anh làm tốt mà coi anh như một cá nhân đặc biệt.

Mỗi ngày anh đi làm, xử lý công việc kho bãi như bình thường, gặp sự cố thì ưu tiên tra sổ sách rồi mới làm việc với các bên liên quan. Anh chưa bao giờ hé nửa lời về chuyện hai mươi năm trước trong công ty. Có lúc, chính tôi cũng quên mất chúng tôi từng gặp nhau ở ga tàu năm nào.

Cho đến một ngày thứ Sáu, sau khi anh vào làm được ba tháng, anh cầm một chiếc phong bì bước vào văn phòng tôi.

“Giám đốc Trần, tôi muốn nói với anh một chuyện.”

Tôi bảo anh ngồi. Anh đặt chiếc phong bì lên bàn. Bên trong là một xấp tiền mặt.

“Ba trăm tệ.”

Tôi nhìn anh, không đưa tay ra lấy.

Châu Minh Viễn nói: “Không phải vì bây giờ anh là sếp tôi đâu. Chỉ là năm xưa tôi luôn tâm niệm phải trả lại số tiền này. Nay tìm được anh rồi, tôi muốn giải quyết cho trọn vẹn chuyện này.”

Tôi im lặng vài giây: “Anh thực sự vẫn luôn canh cánh chuyện này sao?”

Anh mỉm cười: “Vẫn luôn nhớ.”

Tôi đẩy chiếc phong bì về phía anh: “Anh cất tiền đi.”

Anh sững sờ.

“Bởi vì năm đó lúc tôi đưa tiền cho anh, tôi đã không nghĩ đến chuyện bắt anh phải trả.”

Châu Minh Viễn nhìn chằm chằm chiếc phong bì, không nói gì.

Tôi tiếp lời: “Hơn nữa, hai mươi năm rồi, ba trăm tệ bây giờ và ba trăm tệ năm xưa ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Bây giờ anh trả lại cho tôi, cuộc sống của tôi cũng chẳng vì thế mà tốt lên.”

Anh cúi đầu: “Nhưng tôi cứ luôn cảm thấy mình đang nợ anh.”

Nhìn anh, tôi chợt vỡ lẽ. Đối với tôi, ba trăm tệ năm đó chỉ là một sự tình cờ nhỏ nhoi. Nhưng đối với anh, đó là lúc anh khốn cùng nhất, lại có một người không thèm hỏi xem anh có xứng đáng hay không mà sẵn sàng cho anh một cơ hội để về nhà. Thứ anh muốn trả, có lẽ không chỉ là tiền, mà là cảm giác mắc nợ một ân tình suốt ngần ấy năm trời.

Suy nghĩ một lát, cuối cùng tôi nói:

“Thế này nhé. Nếu anh thực sự muốn khép lại chuyện này, thì đừng coi nó là một món nợ nữa. Sau này trong công việc, anh cứ làm tốt bổn phận của mình; nếu có ngày anh gặp một người thực sự cần giúp đỡ, hãy đưa tay giúp họ một lần trong khả năng của mình. Không phải là để trả nợ tôi, mà là vì chính anh sẵn lòng làm vậy.”

Châu Minh Viễn ngẩng đầu lên. Tôi bồi thêm:

“Tất nhiên, giúp người cũng phải tùy sức. Không phải ai mở miệng xin tiền cũng cho, càng không phải gặp khó khăn là chỉ biết dựa dẫm vào người khác. Giúp được thì giúp, không giúp được thì cứ thẳng thắn nói rõ tình hình.”

Anh nghe xong, lặng im rất lâu. Cuối cùng, anh cất chiếc phong bì đi.