“Tiệc mừng công dự án sao?”
“Không phải.” Anh nhìn tôi, “Chỉ là đi ăn thôi. Hai người chúng ta.”
Tôi nhìn anh.
Anh không hề rời mắt đi nơi khác.
“Được.”
Bữa tối được đặt tại một nhà hàng rất nhỏ ven hồ Tây.
Không có phòng riêng, chỉ là một chiếc bàn dành cho hai người nằm ngay cạnh cửa sổ sát đất.
Ánh hoàng hôn hắt bóng lung linh trên mặt hồ qua khung cửa sổ.
Anh gọi một chai rượu, rót cho tôi nửa ly.
“Tôi không uống được nhiều đâu.”
“Nửa ly thôi.”
Chúng tôi đã trò chuyện rất nhiều.
Không nói về dự án.
Không nói về đầu tư.
Anh kể rằng hồi nhỏ lớn lên ở Tô Châu, bên cạnh ngôi nhà cũ có một con hẻm, cuối hẻm có một cây tỳ bà.
Anh kể anh học đại học ngành toán, sau đó chuyển sang tài chính, vì “toán học không thể trực tiếp thay đổi diện mạo của một con phố.”
Tôi kể rằng hồi nhỏ tôi sống ở khu tập thể của nhà máy, mùa hè chỉ cần thò tay ra khỏi cửa sổ là có thể chạm vào dây phơi quần áo của tòa nhà đối diện.
Tôi kể bức vẽ thiết kế đầu tiên tôi thực hiện là năm tôi mười lăm tuổi, vẽ về một khu dân cư không cần đến dây phơi quần áo – vì mỗi hộ đều có ban công và phòng sấy riêng.
Nghe xong câu đó, anh đặt ly rượu xuống.
“Lý do ban đầu em vẽ thiết kế, là để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người.”
“Đúng vậy.”
“Không phải vì giải thưởng. Không phải vì kiếm tiền.”
“Những thứ đó chỉ là sản phẩm phụ thôi.”
Anh lại mỉm cười.
“Tô Niệm.”
“Vâng?”
“Những chuyện em từng gặp phải sáu năm trước – bây giờ em còn nghĩ đến nữa không?”
Tay bưng ly rượu, tôi ngẫm nghĩ một lúc.
“Có.”
“Nhưng tần suất ngày càng ít đi.”
“Từ lúc nào thì bắt đầu ít đi?”
Tôi nhìn anh.
“Từ lần anh đến studio của tôi.”
Anh không nói gì.
Nhưng anh vươn tay qua, nhẹ nhàng chạm vào đầu ngón tay tôi đang đặt trên bàn.
Rất khẽ.
Khẽ đến mức có thể coi như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Nhưng tôi cảm nhận được.
Đầu ngón tay thật ấm áp.
Không giống đôi bàn tay của kẻ kia – đôi tay lúc nào cũng lạnh lẽo vì những toan tính.
Đôi bàn tay này chỉ đang muốn nói: Có anh ở đây rồi.
Bữa tối kết thúc, anh đưa tôi ra xe.
Trước khi cửa xe đóng lại, anh nói một câu.
“Em xứng đáng được đối xử thật tốt. Không phải vì những thiết kế của em. Mà là vì chính con người em.”
Tôi ngồi trong xe, nhìn mặt hồ qua cửa kính.
Ánh đèn vỡ vụn thành từng mảng vàng lấp lánh trên mặt nước.
Tôi không khóc.
Nhưng cái lỗ hổng nơi ngực trái bị Cố Thừa Tiêu đục khoét – cái lỗ hổng đã rỉ máu rỉ gió suốt sáu năm qua – dường như cuối cùng đã được thứ gì đó nhẹ nhàng khâu lại một góc.
Không phải là lấp đầy.
Mà là bắt đầu quá trình chữa lành.
Tháng Tám.
Bảo tàng mỹ thuật phía Tây thành phố bắt đầu thi công.
Đây là dự án nhỏ nhất mà tôi từng làm – tổng diện tích xây dựng chỉ có tám trăm mét vuông.
Nhưng nó lại là dự án mà tôi dồn nhiều tình cảm nhất.
Vì công trình kiến trúc này không phụ thuộc vào bất kỳ logic thương mại nào.
Nó thuộc về niềm tin của một người dành cho một người.
Trong thời gian thi công, Lục Diễn đã đến công trường ba lần.
Lần nào đến anh cũng không báo trước, tự mình đứng bên rặng tre quan sát, đợi tôi bận xong việc mới bước tới.
Lần thứ ba anh đến, kết cấu của dãy hành lang đã được dựng lên.
Anh đứng dưới hành lang, ngẩng đầu nhìn vào khoảng không gian không có những bức tường bao bọc.
Gió luồn qua rặng tre, thổi thẳng vào bên trong tòa nhà.
Bóng lá tre rung rinh in trên mặt đất.
“Tô Niệm.”
“Vâng.”
“Em có biết tại sao ba năm trước anh mua mảnh đất này mà mãi vẫn không chịu phát triển không?”
“Tại sao?”
“Bởi vì anh vẫn luôn chờ đợi một nhà thiết kế xứng tầm với nó.”
“Đợi mất bao lâu?”
“Ba năm.”
“Anh chưa từng cân nhắc ai khác sao?”
“Đã từng. Gặp qua năm sáu người rồi. Nhưng phương án nào cũng không đúng.”
“Thế nào là ‘không đúng’?”

