Tháng Ba, người của Ngự Sử Đài xông vào phủ.
Trong phủ lập tức loạn như nồi cháo, hạ nhân kẻ trốn người chạy.
Ta ôm chặt cây chổi, co mình sau hòn giả sơn trong hoa viên, mãi đến khi Vương đại phu trong phủ tìm thấy ta.
Ông là một lão nhân có gương mặt hiền lành. Ngày thường, mỗi khi ta thay phu nhân đi lấy thuốc, ông đều dúi cho ta một viên kẹo.
“Nha đầu, đi theo ta.”
Ông kéo ta đi về phía hậu viện, bước chân vội vã.
“Kiếp nạn lần này của Chân gia e rằng không qua nổi. Phu nhân đã dặn, hôm nay mọi người cứ tự giải tán đi.”
Ông nhét vào tay ta một gói bạc vụn nhỏ.
“Cầm lấy, sau này tự lo liệu cho tốt. Chỉ là…”
Ông ngập ngừng, rồi chỉ vào chiếc nôi trong phòng.
“Nhị tiểu thư mới được tám tháng. Một lão già như ta mang theo con bé quá dễ khiến người khác chú ý. Nếu ngươi bằng lòng, hãy đưa con bé đi, đừng để nó rơi vào tay kẻ khác…”
Tiểu nha đầu trong nôi có khuôn mặt hồng hào, mũm mĩm, đang chóp chép mút ngón tay.
Ta bước tới ngồi xổm xuống, khẽ chạm vào gò má nàng. Nàng lập tức cười khanh khách.
Ta bế nàng lên, theo Vương đại phu rời phủ bằng cửa sau.
Từ đó, trong thành Biện Kinh có thêm một tiểu nương tử bán hoành thánh.
1
Ta mang theo số bạc vụn Vương đại phu cho, dựng một quầy hàng nhỏ ở cửa Tây Thị.
Quầy chẳng lớn, chỉ có một tấm thớt cũ, một chiếc nồi sắt và hai ngọn đèn lồng bằng giấy. Trên đèn viết hai chữ “hoành thánh”, là do lão Chu ở quán trà bên cạnh viết giúp. Nét chữ xiêu xiêu vẹo vẹo, nhưng nhìn lại có một hơi ấm rất đỗi thân tình.
Bên cạnh nồi sắt đặt hai vò sành, một vò đựng nước hầm xương, một vò đựng nước sạch.
Nước dùng ngày nào cũng được ninh từ khi trời chưa sáng. Ta dùng xương ống heo, thêm vài lát gừng và mấy hạt hoa tiêu, đun lửa nhỏ suốt một canh giờ. Nước hầm trắng như sữa, mùi thơm có thể bay xa nửa con phố.
Trên thớt xếp một hàng bát nhỏ, trong bát là nhân đã trộn sẵn.
Thịt đùi heo phải băm thật nhuyễn, trộn với dưa đông thái vụn, hành băm, nước gừng, rồi đập thêm một quả trứng vào. Sau đó khuấy theo một chiều cho đến khi nhân dẻo quánh, cắm đũa vào giữa mà đũa không ngã mới xem như đạt.
Vỏ hoành thánh cũng do ta tự cán, mỏng như cánh ve. Đưa lên trước ánh sáng còn có thể nhìn thấy đường chỉ tay phía sau. Quá dày thì không được, quá mỏng cũng không xong, phải vừa dai vừa không dễ rách.
Tháng đầu tiên là quãng thời gian gian nan nhất.
Ta không mua nổi thịt, chỉ có thể mua ít xương heo về ninh nước dùng, bán hoành thánh chay.
Nhân chay gồm đậu phụ, mộc nhĩ và một chút hẹ. Đậu phụ phải ép ráo nước, mộc nhĩ phải băm thật vụn, gói ra mới miễn cưỡng có chút hương vị.
Mỗi bát mười viên, giá bảy đồng, nhưng chẳng có mấy người mua.
Ta bế nhị tiểu thư còn đang bập bẹ học nói, ngồi trên chiếc ghế nhỏ phía sau quầy mà rao hàng.
Ta đặt cho nàng một nhũ danh, gọi là Noãn Nhi.
Ban ngày, ta nhào bột, gói hoành thánh, chân tay không lúc nào ngơi nghỉ.
Noãn Nhi ngồi trong chiếc chậu gỗ đặt ở góc quầy, cổ tay đeo một chiếc chuông nhỏ. Nàng vừa khóc, ta liền ngừng việc, dỗ dành đôi câu rồi đút cho nàng ít nước cháo.
Ban đêm, ta quấn nàng trong lòng, ngủ trong căn nhà gỗ rách nát ở con ngõ phía sau quầy.
Đêm ở Biện Kinh có tiếng tiên sinh kể chuyện, tiếng các nương tử ca hát, cũng có tiếng người say rượu chửi bới và tiếng bước chân lén lút của kẻ trộm. Ta nghe hết thảy, chỉ càng ôm Noãn Nhi chặt hơn.
Có người hỏi vì sao ta bán hoành thánh còn mang theo một đứa trẻ.
Ta chỉ đáp rằng đó là muội muội của ta.
Sang tháng thứ hai, ta dành dụm được tám mươi đồng, cắn răng mua hai cân thịt đùi heo.
Tối hôm ấy, bát hoành thánh nhân thịt đầu tiên vừa ra khỏi nồi, ta nếm thử một viên, nước mắt lập tức rơi xuống.
Bát hoành thánh ấy bán cho một người bán hàng rong đang vội đi đêm. Hắn ăn một miếng, kinh ngạc khen:
“Tiểu nương tử, hoành thánh của cô làm thật đúng vị.”
Sau đó hắn ăn liền ba bát.
Từ đó, việc buôn bán dần dần khá lên.
Mỗi ngày khi trời còn chưa sáng, ta đã phải thức dậy, ra giếng gánh nước, nhóm lửa ninh canh, băm nhân rồi gói hoành thánh.
Gói hoành thánh là việc cần sự tỉ mỉ. Tay trái nâng vỏ, tay phải lấy nhân. Nhân phải vừa đủ, nhiều quá khi luộc sẽ bục vỏ, ít quá ăn lại nhạt nhẽo. Sau đó gập đôi, bóp kín, lại gập thêm một lần, một viên hoành thánh nhỏ nhắn liền thành hình, được xếp ngay ngắn trên tấm ván đã rắc bột.
Mùa đông là khó chịu đựng nhất.
Mùa đông ở Biện Kinh lạnh thấu xương. Nước giếng buốt như dao cắt, vừa thò tay vào đã mất hết cảm giác.
Khi ấy Noãn Nhi vừa biết đi, người được bọc kín như một cục bông, ngồi xổm bên bếp sưởi lửa. Thỉnh thoảng nàng ngẩng đầu gọi ta một tiếng “A tỷ”, ta đáp một tiếng, trong lòng lập tức ấm lên.
Mùa hè cũng chẳng dễ chịu hơn.
Thịt không để được lâu, mỗi ngày ta chỉ dám chuẩn bị một ít. Bán hết là dọn quầy, không dám gói nhiều.
Có những ngày trời quá nóng, nhân thịt mới để hai canh giờ đã có mùi. Ta đành cắn răng đổ hết phần còn thừa.
Thà kiếm ít đi một chút, cũng không thể làm hỏng danh tiếng quầy hàng.
Trên con phố này có không ít người bán thức ăn: bánh bao, mì sợi, bánh nướng, canh cay… mỗi nhà đều có khách quen riêng. Quầy hoành thánh của ta có thể đứng vững, chỉ nhờ một chữ “tươi”.
Đến đầu xuân năm thứ ba, ta tính toán một phen, đã dành dụm được tròn tám lượng bạc.
Ta dùng vải bọc bạc lại, giấu trong túi áo sát người, đặt cùng chiếc khóa bạc nhỏ phu nhân ban cho vào dịp Nguyên Tiêu năm ấy.
Tám lượng bạc ở Biện Kinh có thể làm được gì?
Đủ thuê một căn phòng nhỏ trong ngõ, đủ mua một chiếc bàn đàng hoàng, cũng đủ sắm thêm vài bộ bát đũa.
Ta thầm tính, chỉ cần dành dụm thêm nửa năm nữa, ta sẽ thuê một gian cửa hàng nhỏ gần cửa Tây Thị. Không cần quá lớn, chỉ cần đặt được ba bốn chiếc bàn, rồi treo một tấm biển viết “Hoành Thánh Ôn Ký”, đường đường chính chính trở thành một người buôn bán nhỏ…
2
Lão Chu bán trà bên cạnh là một lão nhân gù lưng ngoài năm mươi tuổi. Thuở trẻ ông từng theo thuyền buôn, về sau chân mắc bệnh, bèn dựng một quán trà ở cửa Tây Thị Biện Kinh, bán trà bát lớn, một đồng một bát, uống bao nhiêu cũng được.
Thấy ta một mình nuôi trẻ vất vả, ông thường giúp ta trông nom Noãn Nhi.
Mỗi khi Noãn Nhi khóc, ông lại dùng đũa chấm nước pha mật rồi đưa vào miệng nàng. Noãn Nhi chóp chép mấy cái liền nín khóc.
“Con bé này là đứa có phúc.”
Lão Chu luôn nói như vậy.
Noãn Nhi lớn rất nhanh. Từ một cục bột nhỏ chỉ biết ê a, chẳng bao lâu đã có thể dùng giọng non nớt gọi ta “A tỷ”.
Nàng rất thích ngồi xổm bên nồi, nhìn ta múc hoành thánh vào bát. Hơi nóng phả lên mặt nàng, làm hai má đỏ hồng.
“A tỷ, hoành thánh thơm quá.”
Nàng kéo vạt áo ta. Ta liền múc cho nàng một bát, vớt bỏ hành hoa, chỉ để lại nhân thịt. Nàng ăn đến bóng nhẫy cả miệng.
Quầy hoành thánh đã mở tròn hai năm. Ta cũng trở thành tiểu chủ quán mà mọi người trên phố đều gọi một tiếng “Ôn nương tử”.
Nói là Ôn nương tử, thật ra ta còn chẳng có một cái tên đàng hoàng.

