Thuở nhỏ, cha mẹ chỉ gọi ta là “nha đầu”. Nha bà bèn gọi ta là Ôn nha đầu. Sau khi vào Chân phủ, mọi người cũng gọi theo như vậy.

Noãn Nhi nay đã hơn hai tuổi, biết nói rất nhiều, cả ngày ríu ra ríu rít như chim sẻ nhỏ.

Nàng biết giúp ta đưa hành, đưa gừng. Có lúc còn học theo ta gói hoành thánh, đôi tay nhỏ dính đầy nhân, thứ gói ra chẳng giống hoành thánh, trái lại giống một cục bột. Vậy mà nàng vẫn đắc ý giơ lên khoe:

“A tỷ, muội gói đó!”

Ta chỉ cười, xoa đầu nàng, rồi đem viên hoành thánh nàng gói luộc riêng một bát cho nàng ăn. Nàng ăn ngon lành vô cùng.

Ta muốn may cho Noãn Nhi một bộ y phục mới.

Y phục nàng đang mặc vẫn là quần áo cũ mang ra từ Chân gia rồi sửa lại, đã giặt đến bạc màu, đầu gối và khuỷu tay đều vá chằng vá đụp.

Ta bèn đến phường vải, mua hai thước vải bông mịn màu chàm. Vải mềm mại, không làm xước da.

Đêm xuống, đợi Noãn Nhi ngủ, ta mượn ánh trăng khâu từng mũi một. Khâu suốt hai đêm mới thành một chiếc áo nhỏ, ở cổ áo còn thêu một bông hoa xiêu xiêu vẹo vẹo. Vậy mà Noãn Nhi mặc vào liền không chịu cởi ra.

Những ngày ấy tuy khổ, lòng ta lại rất yên ổn.

Nhưng trên đời này, hai chữ “yên ổn” lại là thứ khó giữ nhất.

Trung Thu vừa qua, trời Biện Kinh vẫn còn nóng, hoa quế nở thơm khắp thành.

Hôm ấy ta dọn quầy sớm, bế Noãn Nhi ra phố mua hai miếng bánh hoa quế, một miếng cho nàng, một miếng để dành cho lão Chu.

Noãn Nhi ăn đến vụn bánh dính đầy miệng, đôi mắt cười cong cong.

Trên đường quay về, đi ngang quán trà, ta thấy lão Chu đang nói chuyện với mấy vị khách quen, sắc mặt không được tự nhiên.

Thấy ta, ông vẫy tay, hạ giọng nói:

“Ôn nương tử, cô đã nghe tin chưa? Vụ án của Chân gia… đã xử rồi.”

Tay ta run lên, miếng bánh hoa quế trong tay Noãn Nhi suýt rơi xuống đất.

Vụ án Chân gia đã được xét suốt hai năm.

Ban đầu nói là tham ô trong việc vận chuyển lương đường sông, Chân đại nhân bị tống vào đại lao. Về sau lại nói có liên quan đến chuyện muối sắt, càng tra càng sâu, rối như một cuộn tơ vò, không gỡ nổi cũng chẳng cắt đứt được.

Hai năm qua, ta thỉnh thoảng nghe khách thương qua đường nhắc tới. Có người nói Chân đại nhân sắp được lật lại vụ án, có người nói chuyện này sẽ chìm xuồng, cũng có người bảo lần này Chân gia dữ nhiều lành ít.

Mỗi lần nghe thấy, tim ta như bị người bóp chặt. Nhưng ta lại không dám hỏi nhiều, sợ khiến người ta nghi ngờ.

Lão Chu thở dài, hạ giọng thấp hơn:

“Ta có một người họ hàng làm việc ở Hình bộ, nghe nói phán quyết đã ban xuống. Nam đinh Chân gia, bất kể già trẻ, đều bị đày tới Thanh Hải sung quân. Còn nữ quyến…”

Ông dừng lại, không nói tiếp.

Ta đứng trước quán trà, ôm Noãn Nhi trong lòng, chỉ cảm thấy máu trong người đều lạnh ngắt.

Noãn Nhi không biết đã xảy ra chuyện gì, vẫn đang ăn bánh hoa quế, cái miệng nhỏ bóng dầu. Nàng ngẩng đầu nhìn ta:

“A tỷ, sao tỷ không đi nữa?”

Ta không trả lời nàng.

Đêm ấy, sau khi dỗ Noãn Nhi ngủ, ta ngồi một mình trước quầy suốt cả đêm.

Noãn Nhi là đứa trẻ ta bế ra khỏi Chân gia.

Không có Chân gia, sẽ không có Noãn Nhi, cũng không có ta của ngày hôm nay.

Nhưng ta có thể làm gì đây?

Ta nghĩ suốt một đêm, nghĩ đến đau cả đầu.

Khi trời sáng, ta đổ nồi canh xương đã nguội lạnh, nhóm lửa nấu lại một nồi mới.

Ta không cứu được tất cả mọi người, nhưng cứu được một người thì hay một người vậy.

3

Sáng hôm sau, ta gửi Noãn Nhi cho lão Chu trông nom, mang theo tám lượng bạc đến chợ người ở phía nam Biện Kinh.

Chợ người của Biện Kinh nằm trong một con ngõ phía nam thành. Đầu ngõ có hai cây hòe già, trên cây buộc mấy con ngựa, dưới gốc cây là những người đang ngồi chờ việc.

Có người bán sức, có người bán nghề, cũng có kẻ bị xiềng bằng xích sắt.

Phần lớn bọn họ là nữ quyến của những gia đình quan lại phạm tội, bị quan phủ đem bán. Trên người treo thẻ ghi quê quán, tuổi tác và giá tiền, chẳng khác nào súc vật bày bán ngoài chợ.

Có người vẫn mặc lụa là gấm vóc, nhưng y phục đã nhăn nhúm, phủ đầy bụi đất. Son phấn trên mặt cũng lem luốc, để lộ làn da vàng vọt phía dưới.

Có người khóc, có người không khóc. Những người không khóc, ánh mắt trống rỗng như hai giếng cạn.

Khi bước vào con ngõ ấy, hai chân ta run không ngừng.

Ở sâu trong ngõ, ta trông thấy Chân phu nhân đang ngồi xổm dưới chân tường, đầu cúi thấp.

Bà gầy đi rất nhiều. Hai má vốn đầy đặn nay hóp sâu, gò má nhô cao. Tóc xõa quá nửa, chỉ tùy tiện búi lên, cài một cây trâm gỗ.

Trên người bà vẫn là chiếc bối tử màu ngó sen của hai năm trước, nhưng nay đã không còn nhìn ra màu sắc. Cổ áo và ống tay sờn tưa, đầu gối còn thủng một lỗ.

Ngồi bên cạnh bà là đại tiểu thư.

Đại tiểu thư nhỏ hơn ta hai tuổi, năm nay hẳn đã mười hai.

Khi còn ở Chân gia, nàng biết cưỡi ngựa, biết ném tên vào bình, còn thường cùng các nha hoàn đuổi bướm trong hậu viện. Mỗi khi nàng cười, tiếng trong trẻo như chuông bạc.

Trên cổ tay hai mẹ con đều khóa một sợi xích sắt mảnh.

Ta đứng ở đầu ngõ nhìn rất lâu. Một nha bà bên cạnh đẩy ta một cái:

“Tiểu nương tử đến mua người sao? Mấy kẻ này đều là gia quyến tội thần, giá không đắt. Mua về làm nha hoàn sai vặt rất lời.”

Ta chậm rãi bước tới, ngồi xổm trước mặt Chân phu nhân.

Bà ngẩng đầu nhìn ta một cái, nhưng không nhận ra.

Cũng khó trách.

Ở Chân gia, ta chỉ là một nha hoàn làm việc nặng, chuyên quét sân, ngày thường đến chính phòng cũng không được bước vào.

Bên cạnh phu nhân đều là các đại nha hoàn hầu hạ. Một tiểu nha đầu như ta, có lẽ bà chưa từng nhớ mặt.

“Phu nhân.”

Ta khẽ gọi một tiếng.

Bà sửng sốt. Trong đôi mắt đục ngầu chợt lóe lên một tia sáng, tựa như không ngờ ở nơi này vẫn còn có người gọi bà là “phu nhân”.

Bà nhìn ta thật kỹ rồi lắc đầu, giọng khàn khàn:

“Ngươi… ngươi là ai?”

“Ta là nha hoàn của Chân gia.”

Ta thấp giọng đáp:

“Là đứa quét sân trong viện, mọi người đều gọi ta là Ôn nha đầu.”

Bà ngẩn người rất lâu, nước mắt bỗng rơi xuống.

Ta đưa tay nắm lấy tay Chân phu nhân:

“Phu nhân, ta tới đón hai người về.”

Nha bà phía sau lập tức sán lại, nở nụ cười lấy lòng:

“Ôi chao, tiểu nương tử thật có mắt nhìn. Hai người này, một người tuổi hơi lớn, không làm nổi việc nặng, nên rẻ lắm, ba lượng bạc là được. Còn cô nương nhỏ tuổi, có thể làm việc, giá năm lượng. Nếu cô mua cả hai, đưa tám lượng rưỡi, ta làm chủ bán cho.”

Tám lượng rưỡi.

Trong tay ta chỉ có tám lượng.

Ta thò tay vào túi áo sát người, lấy hết tám lượng bạc ra, kèm theo chiếc khóa bạc nhỏ, nhét cả vào tay nha bà.

“Ta mua cả hai.”

Ta nói:

“Chiếc khóa bạc này ít nhất cũng đáng một tiền bạc. Ta thật sự không còn nhiều hơn nữa.”

Nha bà trừng mắt nhìn ta, đếm bạc, lại nhìn bộ y phục đã giặt đến bạc màu trên người ta. Có lẽ thấy ta quả thực không moi đâu ra thêm được nữa, bà ta nhổ một tiếng:

“Thôi thôi, hôm nay coi như ta xui xẻo.”

Bà ta tháo xích cho hai người, đẩy họ một cái:

“Đi đi. Gặp được một chủ nhân tốt bụng, xem như phúc phận của các ngươi.”

Phu nhân đứng dậy, hai chân mềm nhũn, lảo đảo một bước. Ta vội vàng đỡ lấy bà.

Ta dìu hai người, chậm rãi rời khỏi con ngõ ấy.

Dưới gốc hòe già đầu ngõ, Trương lão Tam bán gạo mì vừa lúc đi ngang. Nhìn thấy ta, hắn sửng sốt:

“Ôn nương tử, cô… cô đây là…”

Ta quay đầu nhìn con ngõ một cái, không nói gì.

Trương lão Tam há miệng như muốn hỏi, cuối cùng lại nuốt lời xuống, chỉ thở dài rồi giúp ta cõng Chân phu nhân lên chiếc xe lừa chở bột của hắn.

Trở về cửa Tây Thị, lão Chu thấy ta dẫn theo hai người, vội bốc một nắm trà, pha một ấm trà nóng bưng tới.

Noãn Nhi đang ngồi xổm trước quầy, trong tay vẫn cầm nửa miếng bánh hoa quế, nghiêng đầu nhìn Chân phu nhân.