Đều là những người gì vậy chứ, cứ nhất định phải dựng thần miếu ngay trong nhà của yêu quái người ta.
Mười tám.
Có lẽ lại qua bảy tám năm nữa.
Đến cả đứa con út của Chuyên Nhi cũng đã có thể xuống sông mò cá rồi.
Nó mang cá về, hưng phấn chạy đến trước mặt ta.
“Bà nội, nướng cá, nướng cá cho con.”
Bây giờ ta đã rất biết nấu cơm rồi, tay nghề nướng cá lại càng là nhất lưu.
Ta đang nướng cá, đứa con út của Chuyên Nhi nằm phục trên đầu gối ta, đôi mắt sáng lấp lánh.
Nó rất giống Chuyên Nhi lúc còn nhỏ, cũng hoạt bát lanh lợi như vậy.
Ta ngóng về phía chân trời nơi mặt trời lặn, rất nhớ Chuyên Nhi.
Chiều tối, chắt của Lưu thẩm thẩm đến tìm ta.
Ta vào trong nhà, Lưu thẩm thẩm tóc bạc trắng đang nằm trên giường.
“Phu nhân, ta mơ thấy Thuận Tử rồi.”
Bà nói, Thuận Tử bị lạc đường, đi đi lại lại trong khu rừng mù mịt sương, gấp đến mồ hôi đầm đìa cũng không ra được.
“Phu nhân, làm sao đây, hình như Thuận Tử không về được nữa rồi.”
“Phu nhân, phải làm sao bây giờ?”
Bà đã rất già rồi, trên mặt nếp nhăn hằn sâu như khe rãnh.
Ta lau đi nước mắt của bà, nhẹ giọng an ủi.
“Ngủ đi, ngủ một giấc, Thuận Tử sẽ trở về.”
Không chỉ là Thuận Tử, Chuyên Nhi, còn có những đứa trẻ khác, đều phải trở về.
Ta phân tách bản thân thành rất nhiều mảnh, nhập thân lên vô số chim chóc, bắt đầu lên đường xa xôi.
Bay về tứ phương, bay về bầu trời rộng lớn, tìm kiếm ở khắp mọi ngóc ngách chiến trường.
Nam nhân trong thôn đang giao chiến kịch liệt, cửu tử nhất sinh.
Khi đao kiếm sắp giáng xuống thân họ, ta tung người chắn trước.
Khi họ sắp bước vào cạm bẫy, ta lại đi trước một bước, kích hoạt cơ quan.
Đợi chiến sự lắng xuống, ta tiếp tục nhập thân vào loài quạ, dẫn lối cho họ quay về quê cũ.
Trong rừng sâu, Chuyên Nhi – mù một mắt – dìu Thuận Tử què chân, ngẩng đầu nhìn thấy con quạ.
Hắn bỗng lệ rơi đầy mặt, cất tiếng gọi:
“Mẹ… người đến đón con về rồi.”
Đến khi chân trời hé một vệt trắng như bụng cá, đám nam đinh dìu nhau xuất hiện nơi đầu thôn, không thiếu một ai.
Cả làng sôi trào.
Đêm ấy, Lưu thẩm qua đời.
Trước lúc lâm chung, bà nắm lấy tay ta, trong cơn mê man khẽ gọi:
“Cốt nương nương… đa tạ người…”
Bà gọi ai?
Là đứa chắt gái của bà – đứa bé tên Cổ Nhi chăng?
Chưa kịp hỏi, bà đã mỉm cười mà đi.
19
Liễu Nhi cũng đã già.
Từ Liễu Nhi, đến Liễu cô nương, rồi Liễu thẩm, Liễu nãi nãi.
Lúc lâm chung, nàng thần sắc an nhiên, chỉ nắm chặt tay ta, không ngừng gọi “mẹ”.
“Mẹ… Liễu Nhi không nỡ rời xa người.”
Rõ ràng tóc đã bạc, dung nhan đã tàn,
mà thần thái vẫn như đứa bé năm xưa ta nuôi lớn – hoạt bát, rạng rỡ.
“Mẹ… Liễu Nhi phải đi rồi… người cũng nên nghỉ ngơi thôi.”
“Nếu có kiếp sau… Liễu Nhi còn có thể làm con gái của mẹ… thì thật tốt biết bao.”
Ta khẽ hôn lên trán nàng, như thuở nào dỗ nàng vào giấc ngủ.
“Ngủ đi… mẹ ở bên con.”
Sau đó, Chuyên Nhi cũng qua đời.
Những người ta từng quen biết, dần dần đều rời khỏi thế gian.
Người thì nhập tổ phần, kẻ thì được đưa đến mộ nữ, an táng bên ngoài miếu thờ.
Xuân qua đông tới, ngày đêm luân chuyển, con cháu của Liễu Nhi và Chuyên Nhi… cũng lần lượt rời đi.
Từng người một… đều không còn nữa.
Nhục thân của Kỳ Nương mà ta nương vào, dường như cũng đã đến cực hạn.
Dẫu dùng yêu lực duy trì… cũng không thể ngăn nổi sự tiêu tán.
Đã đến lúc… trở về.
Ta quay lại mộ nữ, tránh xa miếu thờ, co mình dưới tảng đá.
Thầm mắng đám người kia thật thất đức—khiến ta ngay tại “nhà mình” cũng phải cụp đuôi làm yêu.
20
Không biết đã bao lâu trôi qua, bên tai ta bỗng vang lên tiếng gọi:
“Mẹ… mẹ…”
Ồn ào đến phát phiền.
Ta mở mắt, lại phát hiện mình đang ngồi cao trên điện miếu,
từ trên nhìn xuống nhân gian thế thái.
Ba bốn đứa trẻ quỳ trước nấm mộ mới đắp, khóc đến thảm thiết.
Ta không để ý, chúng liền cứ thế khóc mãi.
Còn ồn hơn cả Liễu Nhi và Chuyên Nhi năm xưa.
So với trước khi ta ngủ say, nghĩa địa nay đã trở nên tươi đẹp, bốn bề còn trồng từng rặng đào nở rộ.
Một bé gái chừng hai tuổi, hái một cành đào, lảo đảo bước tới,
đặt trước kim thân trong miếu, thành tâm cầu khấn:
“Cốt nương nương… Cốt nương nương… xin người đến nhà con… con cho người ăn đào…”
Nói xong, con bé lại khóc.
Ban đầu chỉ sụt sịt, sau đó òa lên như sấm rền.
Ta đành bất lực, nhập thân mà ra, đạp tung nắp quan tài, bò ra ngoài.
Lại tiếp tục… nuôi trẻ.
21
Nhiều năm trôi qua, thương hải tang điền, nhân gian biến đổi.
Những người không thuộc thôn này – già trẻ lớn bé – cũng dắt díu nhau chạy vào núi lánh nạn.
Họ nói… bên ngoài đã loạn chiến.
Đứa trẻ ta nuôi cũng muốn ra trận— dẫu triều đình chưa từng bắt lính.
Nam đinh trong thôn cũng lần lượt lên đường, từ kẻ bốn năm mươi tuổi, đến đứa chỉ mười mấy.
“Quốc gia hữu nạn, không thể cầu sống!”
“Thà làm quỷ chiến tử, quyết không làm nô lệ mất nước!”
Họ hô vang khẩu hiệu, trong ánh tiễn biệt của thê tử, phụ mẫu— hiên ngang bước vào con đường núi mịt mờ sương khói.
Khác với lần trước, trên mặt họ chỉ còn sự kiên định và quyết tử như về với cái chết.
Ta nóng ruột như lửa đốt, chỉ muốn bảo vệ họ cho bằng được.
Thế nhưng lần này, chiến trường quá lớn, binh lửa tràn ngập khắp từng tấc đất.
Ta thậm chí còn chẳng cảm nhận nổi họ, bởi khí tức tử vong đã bao phủ cả giang sơn này.
Rất nhanh, đám đàn ông đều chết sạch.
Đám phụ nữ cũng chẳng hề dừng lại, họ vác vũ khí, đeo hành trang trên lưng, tiếp tục đi vào màn sương không thấy điểm tận.
Dần dần, trong làng chỉ còn lại những kẻ già yếu và trẻ nhỏ đang kéo dài hơi tàn.
Người bên ngoài không ngừng đưa những lão nhân mất khả năng đi lại, người tàn tật, cả trẻ sơ sinh đến thôn, cầu ta chăm nom bọn họ.

