Cho đến khi nhà họ Cố giục cưới. Mẹ của Cố Hoài Thanh từng gặp tôi vài lần, cảm thấy tôi yên tĩnh, hiểu chuyện, gia cảnh đơn giản, rất “phù hợp” để làm con dâu nhà họ Cố.
Chính hai chữ “phù hợp” đó đã đưa tôi đến trước mặt anh.
Ngày xem mắt, anh ngồi ở vị trí cạnh cửa sổ nhà hàng, vest phẳng phiu, ly nước trước mặt chưa uống ngụm nào.
Lúc tôi đến, anh ngước mắt nhìn tôi: “Cô Thẩm.”
Anh gọi tên tôi vô cùng xa lạ. Nhưng tôi vẫn ngồi xuống.
Buổi xem mắt đó chỉ kéo dài hai mươi phút.
Cố Hoài Thanh hỏi tôi có yêu cầu gì về hôn nhân không.
Tôi nói: “Chung thủy, tôn trọng, ổn định.”
Anh nói: “Tôi làm được.”
Tôi hỏi anh: “Anh cần một người vợ sao?”
Anh nhìn tôi, trầm mặc vài giây: “Cần.”
Tôi mỉm cười: “Vậy tôi có thể.”
Cố Hoài Thanh không gặng hỏi tại sao. Có lẽ người trưởng thành đều ngầm hiểu, trong hôn nhân không phải thứ gì cũng cần liên quan đến tình yêu.
Chúng tôi nhanh chóng đi đăng ký.
Năm đầu tiên kết hôn, Cố Hoài Thanh rất bận, và cũng rất lạnh nhạt.
Anh sẽ về nhà đúng giờ, sẽ giao thẻ phụ cho tôi, sẽ nhớ tặng quà vào các dịp lễ tết, cũng sẽ phóng khoáng giới thiệu tôi trước mặt người ngoài: “Đây là vợ tôi, Thẩm Ý Miên.”
Khi anh thốt ra hai chữ “vợ tôi”, ngữ điệu bằng phẳng, không tỏ vẻ thân mật, cũng chẳng hề qua loa. Nhưng tôi lại luôn vì mấy chữ này mà trong lòng nóng ran.
Hồi đó tôi còn trẻ, thế mà lại nhầm tưởng phép lịch sự là sự thiên vị. Bộ não con người đôi khi giống như một bộ lọc rẻ tiền, cái gì cũng có thể tô hồng.
Bệnh dạ dày của anh rất nặng.
Mùa đông năm đầu tiên kết hôn, lúc đang họp ở công ty, anh đau đến mức mặt mày trắng bệch, phải để thư ký đưa vào viện. Bác sĩ nói anh ăn uống không điều độ trong thời gian dài, xuất huyết dạ dày, nếu kéo dài nữa sẽ sinh chuyện lớn.
Khi tôi lao đến bệnh viện, anh đang tựa vào giường bệnh, mu bàn tay cắm kim truyền, sắc mặt còn nhợt nhạt hơn cả bức tường.
Anh thấy tôi, câu đầu tiên là: “Không cần cất công chạy tới đây đâu.”
Tôi đặt lồng bàn giữ nhiệt lên tủ đầu giường, tháo khăn quàng cổ: “Em là vợ anh mà.”
Cố Hoài Thanh liếc nhìn tôi, không nói thêm gì.
Nửa tháng đó, ngày nào tôi cũng chạy tới chạy lui giữa công ty và bệnh viện. Sáng nấu cháo cho anh, trưa đưa canh, tối ở lại canh anh truyền dịch.
Bác sĩ khen anh: “Vợ anh chăm sóc chu đáo quá.”
Cố Hoài Thanh không phủ nhận.
Ngày xuất viện, anh ngồi bên mép giường, nhìn tôi thu dọn đồ đạc, bỗng lên tiếng: “Có thể thuê hộ lý mà.”
Tôi nhét chiếc áo khoác đã gấp gọn vào túi hành lý: “Hộ lý không biết anh không ăn rau mùi, không biết anh uống cháo không thích quá đặc, không biết nửa đêm anh đau tỉnh dậy cũng không thích gọi người khác.”
Anh im lặng một lát: “Em không cần vất vả thế.”
Tôi kéo khóa túi, ngẩng lên nhìn anh: “Cố Hoài Thanh, em cam tâm tình nguyện.”
Đó là lần đầu tiên tôi nói thẳng thừng như vậy trước mặt anh.
Anh rủ mắt xuống, hồi lâu sau, khẽ gọi: “Ý Miên.”
Từ đó, anh bắt đầu gọi tên tôi.
Năm thứ hai kết hôn, anh bắt đầu chủ động nhắn tin cho tôi mỗi khi tăng ca, báo rằng tối về muộn.
Năm thứ ba, anh nhớ ngày sinh nhật tôi, tự tay nấu cho tôi một bát mì trường thọ dù chẳng ngon mấy.
Đầu năm thứ tư, tôi bị cảm sốt, anh hủy lịch họp, túc trực bên giường đo thân nhiệt cho tôi. Hôm đó lúc đưa thuốc, anh thấp giọng nói: “Sau này đừng cố chịu đựng nữa.”
Tôi nhìn anh, bỗng thấy những năm qua mình chờ đợi không hề uổng phí.
Tảng băng ấp lâu ngày rồi cũng sẽ tan. Một người có lạnh lùng đến mấy, rồi cũng sẽ học được cách ngoái lại nhìn người luôn kề vai sát cánh bên mình.
Tôi đã từng thật sự nghĩ như vậy. Cho đến khi Lâm Trĩ về nước.
Sáng hôm sau, tôi dậy sớm hơn bình thường.

