Chàng nhắm nghiền hai mắt lại:
“Gần một vạn lượng.”
“Dạ phải.”
“Thẩm thị bù vào một vạn hai ngàn lượng, thì đã có tới một vạn lượng là vì Liễu thị mà ra.”
Tiền quản sự không dám tiếp lời.
Chàng đứng dậy, bước chầm chậm tới bên song cửa.
Ngoài sân, lá ngô đồng rụng đầy mặt đất, không một ai quét dọn.
Trước kia khi Thẩm thị còn ở đây, sân viện mỗi ngày giờ Mão đã được quét tước sạch bong không vướng chút bụi trần.
Chàng bỗng nhiên hỏi buông một câu:
“Thẩm thị trước lúc rời đi mấy tháng, có điều gì bất thường không?”
Tiền quản sự ngẫm nghĩ một lát:
“Dạ không có. Phu nhân mỗi ngày vẫn quán xuyến việc nhà, tính toán sổ sách như thường lệ, phát nguyệt bổng cho các viện đúng hạn, việc kiểm kê kho tàng cũng chẳng hề trễ nải. Ngay buổi chiều ngày rời đi, người còn tới nhà bếp lên thực đơn cho ngày hôm sau.”
Chàng bỗng quay phắt người lại:
“Nàng lên thực đơn cho ngày hôm sau?”
“Dạ phải. Người trong bếp nói, phu nhân lên xong thực đơn còn dặn dò thêm một câu, bảo tiểu thế tử dạo này không thích ăn bột gạo nữa, đổi sang làm trứng hấp cho đứa trẻ thử xem.”
Chàng sững sờ chết lặng tại chỗ.
Một người đã quyết tâm dứt áo ra đi, trước khi đi vẫn còn canh cánh dặn dò con trẻ ngày mai ăn món gì.
Suốt ba năm qua, ngày ngày đều nhọc lòng vì những chuyện vụn vặt ấy.
Nhọc lòng cho tới tận khoảnh khắc rời đi, thân thể đã quen hành động trước cả suy nghĩ trong đầu.
Chàng trầm mặc một hồi lâu:
“Chuẩn bị thuyền.”
“Vương gia?”
“Chuẩn bị thuyền, ta đích thân đi đuổi theo.”
Tiền quản sự do dự đôi chút:
“Vương gia, chiến sự phương Bắc vẫn chưa ngã ngũ, tấu chương triều đình…”
“Để Phó tướng quốc cáng đáng. Trong vòng ba ngày, ta muốn có một chiếc thuyền nhanh nhất.”
Tiền quản sự lĩnh mệnh lui ra.
Một mình chàng đứng lẻ loi bên song cửa, tay nắm chặt tờ hưu thư kia.
Mảnh giấy đã bị chàng vò nát đến không còn hình thù gì nữa, nếp gấp sắp sửa rách toạc ra.
Thế nhưng chữ “Chuẩn” son đỏ chót kia vẫn còn đó.
Đỏ rực đến gai mắt, buốt lòng.
Lưu ma ma trong thư kể lại, đêm hôm ấy bà đi ngang qua thư phòng, thấy ánh đèn bên trong vẫn sáng tỏ.
Cửa khép hờ một khe hở, chàng ngồi trước án, trước mặt đặt cuốn sổ riêng kia.
Lật tới một trang nọ, rồi dừng lại thật lâu.
Lưu ma ma lén nhìn qua khe cửa.
Trang ấy viết rằng:
“Năm thứ ba tháng Giêng: Tiệc đầy tháng tiểu thế tử cùng tiểu quận chúa, Vương phủ không cấp bạc, Thẩm thị tự bỏ ba trăm lượng bạc riêng lo liệu. Vương gia có mặt chừng một tuần hương, chưa từng bế tiểu quận chúa.”
Ngón tay chàng đè chặt lên năm chữ “chưa từng bế tiểu quận chúa”, hồi lâu, hồi lâu không hề nhúc nhích.
09
Ta lênh đênh trên biển suốt mười hai ngày ròng rã.
Ba ngày đầu nôn mửa đến tối tăm mặt mũi, chẳng nuốt nổi thứ gì vào bụng.
Thu Hòa cũng chẳng khá hơn là bao, sắc mặt vàng vọt như nghệ, nhưng vẫn cắn răng gượng dậy chăm sóc hai đứa trẻ.
A Chiêu trái lại chẳng hề say sóng, bò tới bò lui trong khoang thuyền, tinh thần phấn chấn vô cùng.
A Nguyệt thể trạng yếu hơn một chút, phát sốt nhẹ, ta ôm con bé đút thuốc suốt hai ngày mới hạ sốt.
Trịnh thuyền chủ mỗi ngày ghé qua một bận, đưa cho ít cháo hoa cùng dưa muối:
“Thẩm phu nhân, ráng chịu đựng thêm hai ngày nữa là tới An Bình rồi. Nơi đó ta có người quen, đã thu xếp xong chốn dung thân cho người.”
“Đa tạ Trịnh đại ca.”
Tới ngày thứ năm, ta cuối cùng cũng gượng dậy bước ra boong thuyền.
Gió biển mằn mặn tanh nồng, thổi rát buốt khiến người ta mở mắt không ra.
Bốn bề mênh mông rặt một màu nước biếc, chẳng thấy bờ bến đâu.
Thu Hòa bế A Chiêu bước tới đứng cạnh ta:
“Phu nhân, người có hối hận không?”
“Không hối hận.”
“Một chút cũng không sao?”
Ta ngẫm nghĩ một thoáng:
“Có một chút.”
“Chuyện gì ạ?”
“Lẽ ra ta nên đi sớm hơn hai năm.”
Thu Hòa bật cười vì câu nói của ta, nhưng cười chưa dứt thì nước mắt đã lăn dài:
“Phu nhân, chúng ta tới An Bình rồi, biết nương tựa vào đâu mà sống qua ngày?”
“Làm ăn buôn bán.”
Ta từ trong tay nải rút ra một xấp ngân phiếu.
Đây là số tiền ta tích cóp suốt ba năm qua.
Bạc hồi môn tuy đã dùng lấp lỗ hổng cho vương phủ, nhưng tiền lời kiếm được trên thương lộ, ta một phân một hào cũng không đụng tới.
Ta mượn các mối quan hệ buôn bán của Thẩm gia, sớm đã giăng sẵn một tuyến buôn vải vóc cùng hương liệu ở Nam Dương.
Hàng hóa từ nội địa đi đường biển tới An Bình, rồi từ An Bình phân phối sang các tiểu quốc lân cận.
Tuyến đường này ta đã âm thầm gây dựng hơn một năm, nay đã bắt đầu thu hồi vốn liếng.
Sau khi tới An Bình, mọi chuyện diễn ra suôn sẻ hơn ta tưởng tượng rất nhiều.
Người quen của Trịnh thuyền chủ họ Ngô, mở một kho hàng ở An Bình, tính tình chất phác thật thà, giúp ta thuê một tòa viện nhỏ.
Viện không lớn, trước sau hai gian, có một mảnh vườn con con.
So với hậu viện vương phủ thì nhỏ hơn nhiều, nhưng đẩy cửa ra là có thể ngắm nhìn biển cả bao la.
Ta mất ba ngày thu dọn nhà cửa đâu vào đấy.
Phòng của A Chiêu và A Nguyệt quay về hướng nam, đón nắng ấm áp, mở cửa sổ ra là nghe thấy tiếng sóng vỗ rì rào.
Phòng của Thu Hòa ở sát vách, tiện cho việc ban đêm chăm sóc con trẻ.
Phòng của ta nhỏ nhất, nép sát chân tường viện, thanh tịnh yên bình.
Ngày thứ tư, ta ra phố buôn bán ở An Bình.
Thương nhân người Hoa trên phố rất đông, ngành nghề nào cũng có người làm.
Ta tìm được một gian mặt bằng trống, vị trí không đắc địa cho lắm, nhưng giá thuê rẻ.
Thương lượng giá cả với chủ nhà xong xuôi, ngay trong ngày liền đặt bút ký khế ước.
Gian tiệm dọn dẹp sạch sẽ, treo biển hiệu lên: “Thẩm ký thương hiệu”.
Bán vải vóc, bán hương liệu, cũng thu mua nông thổ sản địa phương chuyển về bán lại trong nội địa.
Ngày đầu mở hàng, vắng hoe không một bóng khách.
Ngày thứ hai có hai vị khách ghé mua mấy xấp lụa mộc.
Ngày thứ ba, một đại thương gia bản địa nghe tin có một nữ thương nhân từ nội địa tới, liền đích thân chạy tới xem thử.
Đó là một người đàn ông trung niên mập mạp, họ Mã, chuyên nghề buôn bán gỗ lạt.
Ông ta dạo quanh tiệm một vòng, sờ nắn chất lượng vải vóc, khẽ gật đầu:
“Thẩm chưởng quầy, vải của nàng không tệ, dệt khít khao mịn màng hơn vải bản địa. Lượng hàng có lớn không?”
“Lượng hàng rất lớn. Nửa tháng nữa chuyến hàng tiếp theo sẽ cập bến, muốn bao nhiêu có bấy nhiêu.”
“Được, ta trước mắt đặt một trăm xấp. Giá cả tính thế nào?”
Ta báo một mức giá, thấp hơn thời giá bản địa một phần mười.
Ông ta mừng rỡ, lập tức đặt cọc tiền tươi thóc thật.
Việc làm ăn cứ thế mà hưng thịnh dần lên.
Tháng thứ nhất, ta kiếm được ba trăm lượng.
Tháng thứ hai, năm trăm lượng.
Tháng thứ ba, Mã lão bản giới thiệu thêm vài người bạn hữu tới, đơn đặt hàng tăng gấp đôi.
Ta bắt đầu thuê mướn thêm người: hai gã tiểu nhị, một gã kế toán ghi sổ.
Thu Hòa ban ngày phụ ta trông coi cửa hàng, ban đêm chăm sóc hài nhi.
Ngày tháng bận rộn tất bật, nhưng tâm hồn an ổn, thanh thản vô cùng.
Mỗi đêm sau khi dỗ dành A Chiêu và A Nguyệt ngủ say, ta lại ngồi ngoài sân tính toán sổ sách.
Gió biển thổi tới, mang theo vị mằn mặn ẩm ướt.
Trăng sao trên đỉnh đầu vừa to vừa sáng tỏ, đẹp đẽ hơn chốn kinh thành kia gấp bội phần.
Có một đêm nọ, Thu Hòa trong lúc thu dọn đồ đạc bỗng lật tìm ra một thứ.
Là đôi khóa vàng.
Đôi khóa vàng Liễu thị tặng hôm tiệc đầy tháng.
Ta quên bẵng không vứt đi, bị Thu Hòa gói ghém trong tay nải mang theo ra ngoài này.
Thu Hòa cầm đôi khóa vàng hỏi ta: “Phu nhân, cái này tính sao đây ạ? Đem vứt đi chăng?”
Ta đón lấy xem xét.
Vàng ròng nguyên chất, chế tác tinh xảo, mặt trước khắc bốn chữ “Trường mệnh bách tuế”.
Ta ước lượng sức nặng trong tay:
“Mang đi nấu chảy ra, đúc thành hai chiếc vòng cho A Chiêu và A Nguyệt đeo.”
Thu Hòa phì cười:
“Phu nhân, người thật là dứt khoát.”
“Chẳng dứt khoát chút nào. Tận dụng vật phẩm mà thôi.”

