Tới tháng thứ tư, Trịnh thuyền chủ từ nội địa trở lại, mang tới một phong thanh:

“Thẩm phu nhân, Nhiếp chính vương đang ráo riết tìm kiếm người.”

Ta đang kiểm hàng trong tiệm, động tác trên tay khựng lại đôi chút:

“Tìm thế nào?”

“Phái người dọc theo bờ biển lùng sục từng bến cảng một. Lại còn phát cả hải bộ văn thư, có điều không ghi đích danh người, chỉ đề là ‘tìm người’, kèm theo chân dung.”

“Bức họa có giống không?”

Trịnh thuyền chủ lắc đầu:

“Chẳng giống chút nào. Họa quá mức đoan trang quý phái, khác xa với bản thân người hiện tại.”

Ta bật cười nhẹ một tiếng.

Chàng đại để là sai họa sư trong cung vẽ.

Họa sư chỉ từng thấy bộ dạng ta vận triều phục đội mũ phượng mà thôi.

Còn ta của hiện tại, áo vải thô sơ, tóc búi tùy tiện cài một chiếc trâm mộc, trên tay còn vương mùi đồng xanh từ bàn tính.

“Chàng không tìm tới đây được đâu.”

“Vạn nhất tìm tới thì sao?”

“Vạn nhất tìm tới, ta cũng tuyệt đối không trở về. Hưu thư do chính tay chàng phê duyệt, giấy trắng mực đen, son đỏ dấu ấn rành rành.”

Trịnh thuyền chủ nhìn ta một cái, không nói thêm gì nữa.

Trước khi rời đi chỉ buông lại một lời:

“Thẩm phu nhân, người của Nhiếp chính vương đã tra tới tuyến Nam Dương này rồi. Chậm nhất hai tháng nữa, bên An Bình này sẽ có động tĩnh. Người hãy sớm liệu đường tính toán.”

Ta gật đầu.

Tiễn Trịnh thuyền chủ đi rồi, ta ngồi lặng trong tiệm một lúc.

A Chiêu từ hậu viện lon ton chạy tới, ôm chầm lấy chân ta, ngửa mặt cười toe toét.

Đôi mắt nó vẫn giống hệt phụ thân nó.

Nhưng nụ cười lại rạng rỡ giống ta.

Ta bế bổng con lên, thơm lên má nó một cái:

“Đi nào, về nhà ăn cơm.”

10

Chàng tới nhanh hơn cả lời Trịnh thuyền chủ dự đoán.

Bốn mươi ngày.

Buổi chiều hôm ấy, ta đang ở trong tiệm đối chiếu sổ sách với Mã lão bản.

Thu Hòa từ ngoài hớt hải chạy vào, mặt mày cắt không còn giọt máu:

“Phu nhân, ngoài bến tàu có một chiến thuyền cực lớn cập bến, treo cờ hiệu của Vương phủ!”

Ta đặt bàn tính xuống:

“Người đâu rồi?”

“Chưa xuống thuyền, nhưng ngoài bến tàu người dân bu quanh đông nghịt.”

Ta đứng dậy, khóa sổ sách cất vào trong tủ:

“Ngươi về nhà trông chừng lũ trẻ cho cẩn thận, tuyệt đối đừng đi đâu cả.”

Sau khi Thu Hòa đi khỏi, ta đem cánh cửa tiệm cài lại một nửa.

Không đóng chặt.

Ta không trốn.

Trốn không thoát, mà cũng chẳng việc gì phải trốn.

Hưu thư do chính tay chàng phê chuẩn, ta đường đường chính chính dứt áo ra đi.

Chừng nửa canh giờ sau, trước cửa tiệm có bóng người xuất hiện.

Là Tiền quản sự, phía sau có hai gã tùy tùng theo sát.

Tiền quản sự vừa trông thấy ta liền sững sờ trong thoáng chốc.

Đại để là không ngờ nổi cảnh tượng ta khoác áo vải thô ngồi lọt thỏm trong một gian tiệm nhỏ buôn bán thế này.

“Thẩm… Thẩm phu nhân.”

“Tiền quản sự, đã lâu không gặp.”

“Vương gia tới rồi, muốn diện kiến người.”

“Ở đâu?”

“Ở trên thuyền. Vương gia nói, thỉnh người ra bến tàu một chuyến.”

Ta ngẫm nghĩ một thoáng:

“Không đi. Muốn gặp thì tới tiệm này mà gặp. Nơi đây ta có sẵn trà.”

Tiền quản sự mấp máy môi, quay người trở về truyền lời.

Lại trôi qua một tuần hương.

Chàng tới.

Phu thê ba năm, nửa năm không gặp.

Chàng gầy rộc đi trông thấy.

Dưới quầng mắt thâm đen, gò má nhô cao hơn trước, bước chân đi không còn vững vàng như xưa.

Trên mình vận tiện phục, không mặc quan bào, có lẽ sợ gây kinh động chốn An Bình này.

Chàng bước vào tiệm, ánh mắt đảo quanh một vòng:

Những xấp vải trên giá hàng, chiếc bàn tính treo trên vách, chiếc ghế gỗ đặt sau quầy thu ngân.

Rồi ánh mắt chàng dừng lại trên người ta.

Ta ngồi sau quầy, không hề đứng dậy đón chào:

“Ngồi đi, trà có sẵn trên bàn.”

Chàng ngồi xuống đối diện với ta.

Hai người cách nhau một mặt quầy thu ngân, ở giữa đặt một ấm trà thô cùng hai chiếc chén gốm sứt mẻ.

Chàng không uống trà.

“Nàng gầy đi rồi.” Chàng mở lời trước.

“Bận rộn mà. Buôn bán nhọc nhằn hơn quản gia nhiều.”

Chàng trầm mặc một lát:

“Lũ trẻ đâu rồi?”

“Ở nhà, khỏe mạnh lắm. A Chiêu đã biết đi chập chững rồi, A Nguyệt cũng sắp biết đi.”

“Ta muốn nhìn ngắm chúng một chút.”

“Được thôi. Nhưng ta phải nói rõ ràng trước đã.”

Ta tự rót cho mình một chén trà, nhấp một ngụm:

“Hưu thư ngài đã phê chuẩn, giấy trắng mực đen rõ ràng. Ta mang con đi là quyền của ta. Nếu ngài tới đây để nói lý lẽ, chúng ta cùng đàm đạo. Còn nếu ngài tới để cướp người, ngày mai ta lập tức dời đi nơi khác, ngài cứ việc bỏ thêm nửa năm nữa mà lùng sục.”

Ngón tay chàng siết chặt lấy lớp vải trên đầu gối:

“Ta không tới để cướp người.”

“Vậy ngài tới làm gì?”

Chàng nhìn ta, cánh môi run rẩy mấp máy mấy lần, mới thốt ra được thành lời:

“Ta tới để nhận sai.”

Bàn tay cầm chén trà của ta khựng lại trong tích tắc.

“Chuyện thuốc an thai, đã tra ra ngọn ngành rồi. Là do Liễu thị sai khiến.”

“Còn chuyện A Nguyệt ngã bệnh sau tiệc đầy tháng, dược liệu đưa tới trộn bạc hà, cũng là do nàng ta.”

“Sổ sách ba năm ta đã lật xem hết thảy, nàng ta tham ô gần một vạn lượng, quá nửa đều tuồn về nhà mẹ đẻ.”

Chàng kể từng việc, từng việc một, giọng điệu bằng phẳng nhưng yết hầu không ngừng chuyển động:

“Những chuyện này, lúc đó cớ sao nàng không chịu nói cho ta hay?”

Ta đặt chén trà xuống bàn:

“Nói với ngài thì có ích gì sao?”

Chàng nín thinh.

“Chuyện thuốc an thai xảy ra, ta tra ra là do nha hoàn Đông viện tráo đổi. Ta không nói với ngài, là bởi ta biết rõ ngài sẽ nói những lời gì.”

“Ngài sẽ nói có lẽ là nhầm lẫn, ngài sẽ bảo Liễu thị không phải hạng người như thế. Rồi sau đó ngài sẽ sang Đông viện, nàng ta sẽ khóc lóc, ngài sẽ xót xa, rồi chuyện này lại trôi vào quên lãng.”

“Ba năm qua mỗi một lần đều như vậy cả. Ta nói lời nào ngài cũng chẳng tin, nàng ta thốt ra câu gì ngài cũng tin sái cổ.”

“Ta nói vạn lời, cũng chẳng bằng một giọt nước mắt nàng ta rơi xuống.”

Trong tiệm chìm vào khoảng lặng thật dài.

Ngoài phố vẳng lại tiếng người bán hàng rong rao hàng le lói, gió biển lùa âm thanh vào trong, rồi lại thổi tan tác đi.

Chàng cúi gầm đầu, hồi lâu sau mới thốt ra lời:

“Nàng nói đúng.”

Chỉ vỏn vẹn ba chữ ấy.

11

Chàng ở lại An Bình ba ngày.

Ngày thứ nhất, ta dẫn chàng về nhà gặp hai đứa trẻ.

A Chiêu không nhận ra chàng, trốn sau lưng Thu Hòa không chịu ra.

A Nguyệt trái lại to gan hơn nhiều, khi được chàng bế bổng lên không hề khóc lóc, mở to hai mắt tròn xoe nhìn chàng chằm chằm hồi lâu.

Chàng bế A Nguyệt, tay chân lóng ngóng chẳng biết đặt vào đâu.

Một kẻ có thể vung bút điều động thiên quân vạn mã, mà tư thế bế cốt nhục của mình lại vụng về đến tội nghiệp.

A Nguyệt đưa bàn tay nhỏ xíu túm lấy cổ áo chàng, giật giật một cái.

Chàng cúi đầu nhìn con bé, hốc mắt chợt đỏ hoe.

Thu Hòa đứng bên cạnh chứng kiến cảnh tượng ấy, vội quay mặt đi lau nước mắt.

Ta tựa lưng vào khung cửa, không cất nửa lời.

Ngày thứ hai, chàng tới cửa tiệm.

Ngồi sau quầy thu ngân suốt cả buổi sáng, nhìn ta buôn bán làm ăn.

Mã lão bản tới nhận hàng, thấy trong tiệm bỗng xuất hiện một người đàn ông lạ mặt, liền đưa mắt đánh giá đôi phần:

“Thẩm chưởng quầy, vị này là…?”

“Họ hàng xa dưới quê lên chơi ạ.”

Mã lão bản à một tiếng, không gặng hỏi thêm.