Ta quyết định ngậm miệng không hỏi thêm câu nào nữa.
Đêm hôm ấy.
Ta trằn trọc không ngủ được.
Gian chái bên cạnh không ngừng vang lên những tiếng lách cách loảng xoảng.
Ta trở mình, lấy chăn trùm kín đầu.
Tiếng động lại càng lớn hơn.
Xuân Hạnh hớt hải chạy vào: “Nương nương, điện hạ đang dỡ giường ạ.”
“…Cái gì cơ?”
“Điện hạ chê dát giường cứng quá, đòi dỡ hết mấy thanh xà ngang bên dưới ra.”
Ta tung chăn ngồi dậy, nhìn chăm chú lên xà nhà rất lâu:
“Cứ để nó dỡ đi.”
“Nhưng dỡ ra rồi thì lấy đâu giường mà ngủ nữa ạ…”
“Nó không chịu để bản thân thiếu giường ngủ đâu. Nó sẽ tự ghép những thanh gỗ dỡ ra thành một cái giường mới thôi.”
Chính ta cũng chẳng hiểu sao mình lại biết điều đó.
Có lẽ là trực giác của một người mẹ chăng.
Quả nhiên.
Sáng hôm sau, ta ghé sang gian phòng bên cạnh nhìn một cái.
Triệu Hanh đang nằm dang tay dang chân trên một chiếc sập thấp tự chế, ngủ say sưa ngon lành.
Chiếc giường khung ban đầu đã bị dỡ tan tành, các tấm ván gỗ được đóng đinh lại thành một cái khung sàn thấp tè, bên dưới lót đệm dày cộm.
Phải thừa nhận một điều, trông chiếc giường tự chế này quả thực thoải mái hơn cái cũ rất nhiều.
“Nương nương.” Xuân Hạnh đứng bên cạnh, giọng run bần bật, “Điện hạ dùng đinh… là nhổ từ trên tường viện nhà mình xuống đấy ạ.”
Ta liếc nhìn ra bờ tường ngoài sân.
Quả nhiên thiếu mất một hàng đinh sắt.
“Sửa lại bức tường đó hết bao nhiêu bạc?”
“Dạ ba lượng.”
“Bổng lộc một tháng của ta được bao nhiêu?”
“Dạ năm lượng.”
Ta gật đầu.
Ngày đầu tiên: Lỗ ba lượng.
Triệu Hanh trở mình, lầm bầm điều gì đó trong miệng rồi lại tiếp tục ngủ say.
Ta đứng trước cửa nhìn ngắm gương mặt lúc ngủ hoàn toàn không chút phòng bị của nó.
Thành thực mà nói, đứa nhỏ này trông chẳng xấu xí chút nào.
Lông mày rậm, mắt to, sống mũi cao thẳng, có vài nét hao hao giống ta thời còn trẻ.
Chỉ có điều nơi khóe miệng nó luôn treo cái biểu cảm “ngon thì nhào vô đánh ta đi”, ngay cả lúc ngủ say như chết cũng không chịu tan biến.
Ta thở dài một hơi, rón rén lùi bước ra ngoài.
Vừa xoay người lại, phía sau bỗng vang lên một câu:
“Cây táo bị sâu đục rồi.”
Ta quay đầu lại.
Triệu Hanh vẫn nhắm nghiền hai mắt:
“Cái gì cơ?”
“Cây táo ngoài sân của bà ấy, trên thân cây có lỗ sâu đục. Nếu không xử lý thì mùa thu năm nay đừng hòng có quả mà ăn.”
“…Sao con biết?”
“Đêm qua ta trèo lên xem rồi.”
“Nửa đêm nửa hôm con dám trèo cây?!”
Triệu Hanh he hé một bên mắt:
“Sao thế? Bà không cho trèo à?”
Ta hít sâu một hơi:
“Sau này cấm nửa đêm trèo cây.”
“Thế ban ngày thì sao?”
“Ban ngày… cũng không được!”
“Thế ta đào hố dưới đất có được không?”
“Càng không được!”
Lúc này nó mới chịu mở trừng cả hai mắt, ngồi bật dậy, nhìn ta bằng ánh mắt soi xét:
“Quy củ của bà nhiều thật đấy.”
“Là do con quá vô quy vô củ thì có.” Ta đáp.
Nó nghiêng đầu ngẫm nghĩ một chốc, rồi gật gù:
“Được thôi. Nể tình bà là mẹ ruột của ta, ta cho bà chút thể diện đấy.”
Khi nói câu này, giọng điệu nó rất nhẹ nhàng.
Chẳng giống như qua loa lấy lệ.
Mà giống như một sự dò xét đầy cẩn trọng hơn.
03
Ngày thứ ba Triệu Hanh chuyển tới cung Thừa Lộ, ta nhận được công văn từ Nội vụ phủ.
Một tờ giấy phạt.
“Nhị hoàng tử Triệu Hanh trưa ngày hôm qua xông vào Thái học, ném nghiên mực trên bàn của Thái phó xuống hồ cá, kinh động đến việc học tập của các hoàng tử.
Chiếu theo cung quy, mẹ đẻ là Tống Tiệp dư bị phạt bổng lộc một tháng.”
Bổng lộc trọn một tháng, năm lượng bạc trắng.
Ta cầm tờ giấy phạt trên tay mà bàn tay run lẩy bẩy.
Không phải vì xót tiền.
— Thôi được rồi, chủ yếu vẫn là vì tiếc tiền thật.
“Tại sao điện hạ lại ném nghiên mực?” Ta cố gắng giữ cho giọng mình bình tĩnh nhất có thể.
Xuân Hạnh lí nhí bẩm báo:
“Nghe người ở Thái học kể lại, trong giờ học Thái phó có nhắc tới Tam hoàng tử, khen bài văn của Tam điện hạ viết rất hay, bảo các hoàng tử khác phải noi theo học tập.”
“Nhị điện hạ lúc ấy không nói lời nào, đợi đến lúc tan học thì đem cái nghiên mực ném luôn đi.”
Ta ngẩn người:
“Chỉ vì Thái phó khen ngợi A Tông ư?”
“Hình như là vậy ạ.”
Ta chẳng biết mình nên mang bộ mặt gì để đối diện với chuyện này nữa.
Mạch suy nghĩ của cái đứa trẻ tên Triệu Hanh này ta thực sự theo không kịp.
Con bị người ta đem ra so sánh, con không vui, con hoàn toàn có quyền tức giận, nhưng cớ sao lại đi ném cái nghiên mực làm gì?
Nghiên mực nó đắc tội gì với con à?
Lũ cá dưới hồ đắc tội gì với con à?
Bổng lộc của ta đắc tội gì với con à?
Ta ngồi bên bàn lẩm nhẩm tính một bài toán nợ nần:
Triệu Hanh đến được ba ngày: Dỡ một cái giường (sửa tường tốn ba lượng).
Trộm hai cái đùi gà ở Ngự thiện phòng (người ta chưa thèm truy cứu, nhưng sớm muộn gì cũng phải trả nợ ân tình).
Nửa đêm trèo cây (làm gãy mất một cành táo).
Hôm nay lại bay mất một tháng bổng lộc.
Mới có ba ngày ngắn ngủi mà gia sản của ta đã hao hụt mất một nửa.
Cứ theo cái đà này, không quá một tháng nữa, ta chắc chắn phải sang Nội vụ phủ vay nợ sống qua ngày.
Đang lúc ngồi tính toán sổ sách thì ngoài cửa vang lên tiếng bước chân.
Triệu Hanh từ bên ngoài ngất ngưởng bước vào, vạt áo dính đầy bùn đất, tay trái xách theo một con cá:
“Cho bà này.” Nó ném phịch con cá lên bàn.
Một con cá còn sống nhăn, quẫy đành đạch trên mặt bàn.
“…Con lấy đâu ra con cá này đấy?”
“Dưới ao cá ở Thái học.”
“Con ném nghiên mực xong rồi tiện tay vớt luôn con cá này lên à?”
“Tiện thể thôi.”
Nhìn con cá đang nhảy tưng tưng trên cuốn sổ tính tiền của mình, ta bỗng thấy các dây thần kinh trong não mình cũng đang nhảy tưng tưng theo.
“Triệu Hanh.”
“Hửm?”
“Con có biết việc con ném nghiên mực đã khiến ta bị phạt mất một tháng bổng lộc không?”
Động tác của nó khựng lại một chút. Rất ngắn ngủi.
“Bao nhiêu?”
“Năm lượng.”
“Thế con cá này có đáng giá năm lượng không?”
“Một con cá diếc, không đáng giá!”
Nó cau mày: “Thế để ta đi vớt thêm mấy con nữa…”
“Con dám!”
Ta hét lên một tiếng khiến nó đứng hình.
Triệu Hanh trừng to mắt nhìn ta, vẻ mặt khó tả, như thể vừa kinh ngạc, lại vừa…
Mới lạ.
Có lẽ từ trước tới giờ chưa từng có ai lớn tiếng quát tháo nó như thế.
Hoặc là từng bị quát mắng rồi, nhưng chưa ai quát bằng cái giọng nghẹn ngào chực khóc như ta lúc này.
Phải, ta sắp khóc đến nơi rồi đây này.
Không phải vì tủi thân.
Mà là vì ta nghèo quá!
Khoảnh khắc này ta nhận thức sâu sắc hơn bao giờ hết: Chi phí kinh tế để nuôi một đứa trẻ ma vương hoàn toàn vượt xa khả năng chi trả của ta.
Triệu Hanh đứng chôn chân tại chỗ, nhìn hốc mắt đỏ hoe của ta, im lặng rất lâu.
Sau đó, nó gỡ con cá khỏi cuốn sổ sách, thả vào chiếc chậu đồng:
“Để ta đi nói với Nội vụ phủ, phạt thì phạt ta, đừng có phạt bà.”
“Con đi nói cũng vô ích, quy củ trong cung định sẵn là phạt mẹ đẻ.”
“Thế thì quy củ trong cung sai bét.”
“Quy củ không phải do con định đoạt.”
“Sớm muộn gì cũng do ta định đoạt thôi.”
Câu nói ấy nó thốt ra rất khẽ, nhưng lại vô cùng kiên định, chắc nịch.
Ta không đáp lời.
Một đứa trẻ sáu tuổi nói ra câu “sớm muộn gì cũng là ta định đoạt”, nếu rơi vào miệng đứa trẻ khác thì ta chỉ coi là lời nói ngây ngô con nít.
Nhưng khi Triệu Hanh nói câu này, ánh mắt nó chẳng có vẻ gì là đang nói đùa cả.
Bên ngoài bỗng chốc rộn ràng tiếng người.
Ta ghé mắt nhìn ra, là nghi trượng của Thẩm Quý phi.
Nàng ấy đến rồi.

