Chẳng phải là những bông tuyết mềm mại như lông ngỗng, mà là những vụn băng sắc bén như lưỡi dao, đập rào rào vào cửa xe, nghe hệt như vô số người đang chỉ trỏ sau lưng:
“Nhìn kìa, đứa cô nhi không biết xấu hổ, bị đày đi ăn cát rồi!”
Ta không vén rèm, cũng không ngoảnh lại.
Ta thừa biết, phía sau lưng không có lấy một bóng người đưa tiễn.
Cánh cửa Tướng quân phủ đóng chặt, ngay cả một con chó cũng chẳng thèm sủa lấy một tiếng.
Còn Cận Phong và Hạ Dư, hẳn đang ôm ấp đứa con của ta, trong noãn các chọn may những bộ triều phục thế tử mới tinh.
Bọn họ hẳn nghĩ, ta không trụ nổi quá ba tháng.
Nhưng ta đã sống sáu năm.
Chẳng những sống sót, mà còn trở thành Vương phi được Tả Hiền Vương Bắc Địch kính trọng nhất.
— Đương nhiên, hai chữ “kính trọng” này, là do ta đánh đổi bằng mạng mới có được.
Đêm đầu tiên đặt chân đến Bắc cảnh, ta suýt mất mạng ở dịch trạm.
Đội ngũ hòa thân mang danh là “sứ đoàn”, nhưng thực chất là một đám áp giải tù nhân.
Chẳng ai chuẩn bị y phục ấm cho ta, cũng chẳng ai chuẩn bị lương khô.
Ta chỉ cuộn mình trong chiếc áo choàng cũ kỹ, ôm chặt cuộn thánh chỉ bỏng rẫy trong ngực như ôm một cục sắt nung đỏ.
Khi tới tòa thành đầu tiên nơi biên ải Bắc cảnh, trời đã sầm tối.
Bão cát cuốn theo vụn tuyết chui tọt vào tận kẽ xương.
Dịch thừa là một gã thô lỗ mặt đầy sẹo thịt, thấy ta thân cô thế cô, không tỳ nữ, không hộ vệ, ánh mắt lập tức thay đổi.
“Ô kìa, đây là ‘Tông thất quý nữ’ mà Trung Nguyên đưa đến sao?”
Gã nhe miệng cười, để lộ hàm răng ố vàng,
“Nghe nói còn là đồ thải của Thái tử? Chậc chậc, thảo nào lại vứt cho Tả Hiền Vương của chúng ta — e là giày rách rồi cũng nên?”
Tên thái giám đi theo vốn đã ăn tiền của Cận Phong, suốt dọc đường nhìn ta bằng ánh mắt khinh khỉnh.
Lúc này gã càng co rúm bên bếp lửa, chẳng thèm nhấc mí mắt:
“Ngươi thích xử trí thế nào thì xử trí, dẫu sao Bệ hạ chỉ nói ‘đưa tới’, không hề dặn là phải đưa tới nguyên vẹn.”
Đêm đó, ta cuộn mình góc sài phòng, nghe tiếng bước chân ngoài cửa mỗi lúc một gần, tay gắt gao siết chặt mảnh gỗ nhọn ta lén bẻ được trên xe ngựa.
Ta biết, nếu ta phản kháng, bọn họ sẽ gán cho ta tội “Thất tiết nhục quốc”;
Nhưng nếu không phản kháng, ta sẽ bị chà đạp đến chết.
Ta chọn con đường thứ ba.
Khi gã dịch thừa say khướt đẩy cửa bước vào, ta dùng hết sức bình sinh lao tới, hung hăng đâm phập mảnh gỗ vào động mạch cổ của gã.
Máu tươi phun đầy mặt ta.
Lúc gã ngã xuống, đôi mắt trừng trừng, tựa hồ không thể tin nổi —
Một cô nhi bị cả thiên hạ phỉ nhổ, lại dám giết người.
Toàn thân ta run rẩy, nhưng không khóc.
Lau sạch vết máu trên tay, ta móc con dao găm bên hông gã, lại lục lọi trong tay nải của gã được vài chiếc bánh nướng, một bầu rượu, một chiếc áo khoác da cừu.
Sau đó, ta phóng hỏa thiêu rụi dịch trạm.
Lửa đỏ rực trời, ta trèo lên con ngựa mà gã xích ở hậu viện, hướng về phía Vương đình Bắc Địch, đầu không ngoảnh lại phi nước đại.
Tuyết gió quất vào mặt, đau rát như đao xẻo.
Ta vừa thúc ngựa phi nước đại, vừa bật cười sảng khoái.
Cận Phong, ngươi nói ta sẽ quỳ gối cầu xin ngươi đón về ư?
Nực cười.
Ta thà vùi thây nơi hoang dã này, cũng tuyệt đối không nhìn mặt ngươi thêm một lần nào nữa!
Nhưng ta không chết.
Ba ngày sau, ta ngất xỉu giữa một thảo nguyên tuyết phủ, được đội săn của Tả Hiền Vương phát hiện.
Tả Hiền Vương tên Tưởng Tại Tranh, hơn ba mươi tuổi, thân hình cao lớn như ngọn núi, trên xương mày có một vết sẹo dài, ánh mắt lạnh lùng tựa mặt hồ đóng băng nơi Bắc cảnh.
Ngài vốn chẳng buồn bận tâm đến “khí phụ Trung Nguyên” là ta, nhưng khi thấy ta gắt gao bảo vệ thanh dao găm đẫm máu trong ngực, cổ tay chằng chịt vết nứt nẻ và vết thắt, mà sống lưng vẫn thẳng tắp không chịu cúi đầu, ngài mới thốt lên một câu nhàn nhạt:

