“Mang về.”
Ngài không chạm vào ta.
Chẳng phải vì thương hại, mà bởi ngài tôn sùng một tín niệm:
“Nữ nhân có thể tự sát phạt mở đường máu, không xứng làm nô, chỉ xứng làm lang.”
Ban đầu, ngài cấp cho ta một lều phụ trong Vương đình, ngày hai bữa cơm canh đạm bạc, không đánh không mắng, cũng chẳng đoái hoài.
Ta cứ tưởng ngài định giữ ta làm bình hoa trang trí, hoặc định tùy tay ném cho tên thủ lĩnh bộ lạc nào đó làm thiếp.
Nhưng ta đã nhầm.
Một tháng sau, ngài triệu ta tới nghị sự trướng.
Bên trong lều đốt đèn mỡ trâu, mặt đất trải da hổ.
Ngài ngồi trên ghế chủ vị, ánh mắt như chim ưng sắc lẹm ghim chặt vào ta:
“Ngươi biết viết chữ?”
Ta gật đầu.
“Đã đọc binh thư?”
Ta do dự một chốc, rồi gật đầu.
Hồi bé ở Tướng quân phủ, tuy không ai dạy bảo, nhưng ta thường xuyên lén đọc những cuộn sách tàn trong thư phòng, «Lục Thao», «Ngô Tử» đều bị ta lật đến sờn nát.
Ngài đột nhiên ném cho ta một tấm bản đồ da cừu:
“Mười ba bộ lạc Bắc cảnh, gần đây có ba bộ rục rịch, muốn liên thủ với Đột Quyết tạo phản. Nếu trong vòng bảy ngày ngươi có thể vạch ra kế sách phá giải, ta trả lại tự do cho ngươi; nếu không viết được—”
Ngài ngừng lời, ánh mắt lạnh lẽo,
“Thì ngươi cút về Trung Nguyên, hoặc chết luôn tại đây, tùy ngươi.”
Ta nhìn chằm chằm tấm bản đồ, đầu ngón tay khẽ run.
Đây không phải là một phép thử, đây là đánh cược mạng sống.
Nhưng ta đã thắng cược.
Ba đêm thức trắng, ta dùng bút than vạch ra ba tuyến phục kích trên da cừu, chỉ điểm ra thủ lĩnh của một bộ lạc nọ bất hòa với phó tướng, có thể dùng kế ly gián; lương thảo của một bộ lạc khác tập trung ở thung lũng sông, có thể dùng kế dạ kích; bộ lạc cuối cùng liên lạc với Đột Quyết qua một con chim ưng truyền tin, có thể chặn đánh.
Tưởng Tại Tranh xem xong, trầm ngâm hồi lâu, chợt mỉm cười.
Đó là lần đầu tiên ta thấy ngài cười.
“Hạ Kha,” ngài gọi tên ta, giọng trầm thấp,
“Ngươi còn ngoan độc hơn rất nhiều kẻ làm nam nhi đấy.”
Từ đó, ta trở thành mưu sĩ của ngài.
Không phải thiếp, cũng chẳng phải nô, mà là “Tán kỵ Tham quân trướng hạ Tả Hiền Vương”.
Ngài ban cho ta đao kiếm, chiến mã, và lệnh bài ra vào quân doanh.
Người Bắc Địch ban đầu không phục, nói một nữ nhân Trung Nguyên có tư cách gì mà bàn luận quân cơ?
Nhưng khi ta tự tay vạch kế phục kích thương đội Đột Quyết, đoạt lại mỏ muối bị cướp, thì không ai còn dám dị nghị.
Ba năm sau, Tưởng Tại Tranh dẹp yên cuộc nổi loạn của mười ba bộ lạc, được Bắc Địch Khả Hãn phong làm “Tả Hiền Vương”, địa vị chỉ đứng sau Thái tử.
Trong đại điển đăng quang, trước mặt tất cả thủ lĩnh các bộ lạc, ngài nắm tay ta, tuyên cáo với muôn người:
“Nữ tử này, Hạ Kha, là thê tử của Tưởng Tại Tranh ta. Không phải thiếp, không phải tỳ, mà là chính thê minh môi chính thủ. Kẻ nào coi khinh nàng, chính là coi khinh ta.”
Khoảnh khắc ấy, đứng trên đài cao, nhìn xuống vạn thiên dũng sĩ Bắc Địch đang phủ phục, ta chợt nhớ lại cô gái run rẩy trong sài phòng Tướng quân phủ sáu năm về trước.
Hóa ra, con người thực sự có thể tự nhổ bật chính mình từ trong vũng bùn, rồi vươn lên thành một cây đại thụ.
Nhưng cây mọc cao bao nhiêu, thì gốc rễ vẫn còn rỉ máu bấy nhiêu.
Mỗi năm tiết Đông Chí, ta đều một mình lên ngọn núi tuyết cao nhất Bắc cảnh để cầu phúc.
Vì đứa con chưa từng cất tiếng gọi ta một tiếng “nương”.
A Tích.
Ta không biết con nay đã cao bao nhiêu, đã biết nói chưa, có bị Hạ Dư ép gọi ả là “nương thân” hay không.
Chỉ biết rằng, vào mỗi đêm ấy, ta lại mơ thấy thân hình bé nhỏ của con khóc nấc trong lòng ta, khóc đến tê tâm liệt phế:
“A nương đừng đi…”
Khi tỉnh mộng, gối đã ướt đẫm nước mắt.
Tưởng Tại Tranh chưa bao giờ gặng hỏi ta mơ thấy ai.

