Bà ngẩng đầu, đôi mắt sáng ngời.

“Tôi không hiểu khoa học lớn lao gì.”

“Nhưng cô Trình nói, cảnh báo không phải để dọa người, mà để chừa cho con người một con đường sống.”

Dưới sân khấu vang lên tiếng vỗ tay.

Tôi đứng bên cạnh, bỗng nhớ nhiều năm trước cha từng dẫn tôi đến trạm thủy văn.

Hôm đó bầu trời cũng xanh như vậy.

Ông chỉ vào thước đo mực nước, hỏi tôi:

“Kiến Vi, con biết tại sao thước phải cắm dưới nước không?”

Tôi nói:

“Để đo nước.”

Ông nói:

“Không chỉ vậy.”

“Nó còn nói cho người ta biết khi nào nên rời đi.”

Khi còn nhỏ, tôi không hiểu.

Bây giờ đã hiểu.

Đời người cũng phải tự cắm cho mình một cây thước.

Yêu đến đâu thì nên dừng.

Nhẫn nhịn đến đâu thì nên rời đi.

Khi người khác biến lòng tốt của bạn thành xiềng xích, bạn phải biết đó không còn là lòng tốt, mà là mực nước nguy hiểm.

Sau khi lễ tốt nghiệp kết thúc, A Lam chạy đến tìm tôi.

Làn da cô ấy rám nắng, đôi mắt sáng như nước suối trên núi.

“Cô Trình, sau này em cũng muốn học máy tính.”

“Được chứ.”

“Toán của em không tốt lắm.”

“Có thể học.”

“Người nhà nói con gái học nhiều như vậy cũng vô dụng.”

Tôi nhìn cô ấy.

“Vậy em nghĩ thế nào?”

Cô ấy cắn môi.

“Em muốn học.”

“Vậy thì học.”

“Nhưng họ sẽ tức giận.”

“Cứ để họ tức giận.”

Tôi nói.

“Cuộc đời em không phải để giúp người khác thuận lòng.”

A Lam ngẩn người.

Một lúc sau, cô ấy bật cười, dùng sức gật đầu.

Ở phía xa, Kỷ Trầm Chu đang đứng dưới bóng cây đợi tôi.

Anh đến Vân Độ tổ chức lớp phổ biến pháp luật công ích, dạy người địa phương đọc hợp đồng, kiểm tra sổ sách và lưu giữ chứng cứ.

Bà La lén hỏi tôi:

“Cô Trình, luật sư Kỷ kia có phải người yêu cô không?”

Tôi nói:

“Không phải.”

Bà La đầy ẩn ý:

“Ồ, vẫn chưa phải.”

Tôi suýt sặc nước.

Khi Kỷ Trầm Chu đi tới, vừa hay nhìn thấy tôi ho đến chật vật.

Anh đưa cho tôi một chai nước.

“Chậm thôi.”

Tôi nhận lấy.

“Bà La nói trông anh giống người xấu.”

Vẻ mặt anh không đổi.

“Hôm qua bà ấy nói tôi là người tốt.”

“Hôm nay đổi ý rồi.”

“Tại sao?”

“Bà nói người tốt sẽ không ngày nào cũng mặc sơ mi trắng, trông quá giả tạo.”

Kỷ Trầm Chu im lặng hai giây.

“Ngày mai tôi đổi sang màu xanh.”

Tôi cười không dừng lại được.

Anh nhìn tôi, trong mắt cũng thấp thoáng ý cười.

Chạng vạng, chúng tôi đi dọc bờ sông trở về.

Nước sông Vân Độ trong hơn những con sông ở Cảng Thành, có thể nhìn rõ từng viên đá dưới đáy.

Kỷ Trầm Chu hỏi:

“Sau đó cô trở về Cảng Thành?”

“Ừ, phòng thí nghiệm còn cả đống việc.”

“Giai đoạn hai của Dự án Hải Đăng thì sao?”

“Vẫn tiếp tục.”

“Còn cô?”

Tôi nghiêng đầu nhìn anh.

“Tôi làm sao?”

Anh dừng một chút.

“Có cảm thấy mệt không?”

Tôi nghiêm túc suy nghĩ.

“Có.”

Anh không nói những lời đẹp đẽ kiểu như “cô đã rất giỏi rồi”.

Anh chỉ nói:

“Mệt thì có thể nghỉ.”

Tôi bật cười.

“Luật sư Kỷ, câu này nghe rất giống lời thừa.”

“Nhưng cô thường xuyên quên.”

Nụ cười trên môi tôi chậm rãi nhạt đi.

Gió sông thổi tới, mang theo mùi rong nước và bùn đất.

Đó là mùi của sự sống.

Tôi nói:

“Trước đây tôi không dám nghỉ.”

“Tôi sợ chỉ cần dừng lại sẽ phát hiện thật ra mình rất buồn.”

Kỷ Trầm Chu im lặng lắng nghe.

Tôi tiếp tục:

“Bây giờ hình như đã có thể rồi.”

“Bởi vì buồn cũng không sao.”

“Nỗi buồn không nhấn chìm người ta.”

“Sự tủi thân mới có thể.”

Anh nhìn tôi.

Mảnh hoàng hôn cuối cùng nơi chân trời rơi lên mép kính của anh, giống một đốm lửa nhỏ.

Anh nói:

“Trình Kiến Vi, cô rất biết cách tổng kết.”

“Bệnh nghề nghiệp.”

“Vậy cô cũng tổng kết bảy năm vừa qua đi?”

Tôi nhìn về phía những ngọn núi xa xa.

Dãy núi trầm lặng nhấp nhô trong hoàng hôn, giống như một bức thư dài chưa được mở.

Rất lâu sau, tôi nói:

“Đã yêu, đã sai, đã tỉnh.”

“Sau đó thì sao?”

Tôi cười.

“Sau đó, không quay đầu.”

HOÀN.